vanban.org

Bản án 70/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố: Bị áo Đặng Mậu H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị áo Đặng Mậu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam . Về xử lý vật chứng: Căn ứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Mậu Hoàng tôi Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố: Bị áo Đặng Mậu H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/HS-ST
Ngày: 30/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ -TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nam

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Đình Vui - Thư ký Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2023, tại trụ sở UBND phường Thanh Khê Tây, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXX -HS ngày 19/6/2023 đối với bị cáo:

- Đặng Mậu H T n g i khá : Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19 tháng 12 năm 1994, tại thành phố Đà Nẵng Nơi thường trú: Tổ 14, Phường V, Quận T, Thành phố Đ Nơi ở hiện nay: K08 N, Phường T, Quận T, Thành phố Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ h c vấn: Lớp 09/12 Con ông: Đặng Mậu C (Sinh năm: 1967) và bà Trần Thị Tố O (Sinh năm: 1970) hiện đều còn sống Gia đình ó 03 anh em, H là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân Thân:

- Ngày 25/01/2018 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 98/QĐ-XPVPHC về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;

- Ngày 06/4/2018 bị Ủy ban nhân dân phường V, quận T ra Quyết định số 148/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng;

- Ngày 03/7/2018 bị Tòa án nhân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành hính đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộ theo QĐ số 44/2018/QĐ-TA với thời hạn 12 tháng

- Ngày 20/5/2019 bị Tòa án nhân dân quận T áp dụng biện pháp xử lý hành hính đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộc theo QĐ số 49/2019/QĐ-TA với thời hạn 15 tháng

- Ngày 13/5/2023 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 12/4/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T . Có mặt tại phiên tòa

* Người tham gia tố tụng:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Tố O, Sinh năm: 1970, Trú: Tổ 14, phường V, quận T, thành phố Đ. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 12 tháng 04 năm 2023, khi Đặng Mậu H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Lead mang BKS 43H1-165.74 đi đến đoạn đường L giao nhau với T thì gặp K (chưa xác định nhân thân, lai lịch) là người quen biết nên H có dừng xe gặp và nói chuyện với K; trong lúc nói chuyện K nhờ H chở lên khu vự nghĩa địa tr n đường L thì H đồng ý và chở K đi. Khi đến nơi H thấy có khoảng 03 nam thanh niên (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đang sử dụng trái phép chất ma túy, lúc này K rủ H vào cùng sử dụng ma túy nhưng H từ chối và nói K xin nhóm thanh niên kia cho H một ít ma túy đá để H đưa về sử dụng. Một lúc sau, có một người trong nhóm chỉ địa điểm để ma túy đá gần đó ho H, khi lấy đượ 01 gói ma túy đá, H ất vào trong túi quần b n trái đang mặc và điều khiển xe mô tô rời đi. Đến 20 giờ 15 phút, khi H đi đến đoạn đường trước nhà số 955 N, phường X, quận T, thành phố Đ thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an quận T, thành phố Đ phối hợp với Tổ công tác 911 Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ bên trong túi quần phía trước bên trái của H đang mặ ó 01 gói ni lông kí h thước 3cm x 3,5cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu G1). Ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 Nỏ thủy tinh 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, Imel 1: 867609038667770, Imei 2: 867609038667762 có gắn sim số 0762222571; 01 xe mô tô hiệu Honda Lead mang BKS 43H1-165.74, số khung RLHJF240AY012553, số máy: JF24E-0317648.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ttiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại nhà số K08 đường N, phường T, quận T, thành phố Đ không thu giữ gì thêm.

Tại Bản kết luận giám định số 316/KL-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đ kết luận:

“Tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói ni lông trong bì niêm phong kí hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu G1: 0,153 gam.” (Bút lục số 31)

Qua thử test nước tiểu Đặng Mậu H dương tính với chất ma túy.

Quá trình điều tra, Đặng Mậu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên. (bút lục: 59 - 69)

Nguyên nhân dẫn đến Đặng Mậu H phạm tội là do ăn hơi, đua đòi dẫn đến việc Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.

* Xử lý tài sản tạm giữ: Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Lead mang BKS 43H1-165.74, số khung RLHJF240AY012553, số máy: JF24E-0317648 qua xác minh, là tài sản của chị Trần Thị Tố O (sinh năm: 1970; Trú: Tổ 14, phường V, quận T, thành phố Đ – là mẹ ruột của H). Vào tối ngày 12/4/2023, H mượn xe của chị O đi ó việc cá nhân; việc H sử dụng vào mụ đí h tàng trữ trái phép chất ma túy thì chị O không biết nên ngày 08/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đ đã trả lại xe mô tô trên cho chị O.

* Vật chứng: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 316/KLMT-KTHS ngày 18/4/2023 ó đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Đ; 01 Nỏ thủy tinh của Đặng Mậu H nhằm mụ đí h sử dụng trái phép chất ma túy 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, Imel 1: 867609038667770, Imei 2: 867609038667762 có gắn sim số 0762222571 là tài sản của Đặng Mậu H.

Cáo trạng số 73/CT-VKSTK ngày 05 tháng 6 năm 2023 ủa Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ truy tố Đặng Mậu H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đượ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phi n toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguy n quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử ăn ứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mứ độ do hành vi phạm tội của bị áo đã gây ra đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Mậu H từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù

* Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 316/KLMT-KTHS ngày 18/4/2023 ó đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Đ; 01 Nỏ thủy tinh của Đặng Mậu H nhằm mụ đí h sử dụng trái phép chất ma túy 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, Imel 1: 867609038667770, Imei 2: 867609038667762 có gắn sim số 0762222571 là tài sản của Đặng Mậu H.

* Về phần dân sự:

Xe mô tô hiệu Honda Lead mang BKS 43H1-165.74, số khung RLHJF240AY012553, số máy: JF24E-0317648 qua xác minh, là tài sản của chị Trần Thị Tố O. Ngày 08/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đ đã trả lại xe mô tô trên cho chị O n n không đề cập xử lý

* Các vấn đề khác:

- Đối với K và những thanh ni n ho ma túy Đặng Mậu H nhưng không xá định được nhân thân lai lị h, Cơ quan ảnh sát điều tra Công an quận T, TP. Đ tiếp tụ điều tra xác minh xử lý sau là ó ơ sở

- Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Mậu H bị Cơ quan Công an quận T ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng là ó ơ sở

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Đặng Mậu H thừa nhận toàn bộ hành vi sai phạm xin HĐXX ân nhắc ý thức khi thực hiện hành vi là do bị cáo thiếu hiểu biết quy định pháp luật cho bị áo hưởng mức thấp nhất để ó ơ hội rèn luyện bản thân

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n ơ sở nội dung vụ án, ăn ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tụ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, á hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát vi n đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của các bị áo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phi n tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Đặng Mậu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử ó đủ ơ sở để kết luận: Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 12/4/2023, tại đoạn đường trước nhà số 955 N, phường X, quận T, thành phố Đ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an quận T, thành phố Đ phối hợp với tổ công tác 911 Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang Đặng Mậu H đang ó hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mụ đí h để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Mậu H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đượ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy bản cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đtruy tố các bị cáo là ó ơ sở đúng người đúng tội.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Đặng Mậu H là người trưởng thành ó đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương n n ần có mứ án tương xứng với hành vi phạm tội của bị áo để cải tạo, giáo dụ và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:

Mặc dù bị cáo Đặng Mậu H hưa ó tiền án, tiền sự nhưng bị áo Đặng Mậu H rất nhiều lần bị xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Năm 2018, UBND quận T ra Quyết định v/v áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường. Năm 2018, Tòa án nhân dân quận T đã ra Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành hính đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng. Năm 2019, Tòa án nhân dân quận T đã ra Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào ơ sở cai nghiện bắt buộc với 15 tháng nhưng bị cáo không lấy đó làm gương vẫn tiếp tục tàng trữ ma túy để thỏa mãn tình trạng nghiện của bản thân được, lần phạm tội này, khi test bị áo dương tính với ma túy, bị Công an quận T ra quyết đinh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy bị cáo có nhân thân rất xấu, là ăn ứ để HĐXX xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo Đặng Mậu H đượ hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Không có tình tiết tăng nặng. HĐXX xét tính hất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị áo để bị cáo nhận thứ được hành vi của mình để bị áo được giáo dục, cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội. Xét hoàn cảnh gia đình bị áo khó khăn, n n không áp dụng hình thức phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 316/KLMT-KTHS ngày 18/4/2023 ó đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Đ; 01 Nỏ thủy tinh của Đặng Mậu H nhằm mụ đí h sử dụng trái phép chất ma túy 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, Imel 1: 867609038667770, Imei 2: 867609038667762 có gắn sim số 0762222571 là tài sản của Đặng Mậu H.

Về phần dân sự: Xe mô tô hiệu Honda Lead mang BKS 43H1-165.74, số khung RLHJF240AY012553, số máy: JF24E-0317648 đã trả cho bà Trần Thị Tố O n n HĐXX không xem xét.

Các vấn đề khác:

- Đối với K và những thanh ni n ho ma túy Đặng Mậu H nhưng không xá định được nhân thân lai lị h, Cơ quan ảnh sát điều tra Công an quận T, TP. Đ tiếp tụ điều tra xác minh xử lý sau là ó ơ sở

- Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Mậu H bị Cơ quan Công an quận T ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng là ó ơ sở

Về án phí: Căn ứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án bị cáo Đặng Mậu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Theo những nhận định như tr n Hội đồng xét xử chấp nhận luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuy n bố: Bị áo Đặng Mậu H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm khoản 1 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị áo Đặng Mậu H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam .

2. Về xử lý vật chứng: Căn ứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong số 316/KLMT-KTHS ngày 18/4/2023 ó đóng dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Đ; 01 Nỏ thủy tinh, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng, Imel 1: 867609038667770, Imei 2: 867609038667762 có gắn sim số 0762222571 của Đặng Mậu Hoàng.

3. Về án phí: Bị áo Đặng Mậu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

4. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 30/6/2023; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ