vanban.org

Bản án 70/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 18 ( mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:70/2023/HS- ST
Ngày: 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Phương và bà Trần Thị Lệ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà, thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2023/TLST-HS ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm M, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hoá: 12/12.

Bố đẻ: Phạm Minh Đ1 (sinh năm 1954, đã chết năm 2012); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1953, hiện trú tại xóm M, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1999; Con: Có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án: Không. Tiền sự: bị cáo có hai tiền sự

+ Tại Quyết định số 45/QĐ-XPHC ngày 27/4/2023 Công an xã K, huyện K xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 04/5/2023; chưa được xóa tiền sự.

+ Tại Quyết định số 0800817/QĐ-XPHC ngày 02/6/2023 Công an xã Yên Lộc, huyện K xử phạt Cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; chưa được xóa tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 28/7/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện K (Có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh Đ2, Trần Trọng Đ (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 26/07/2023, tại đoạn đường đê sông Càn thuộc khối 1, thị trấn Bình Minh Tổ công tác của Đồn Biên phòng K phối hợp với Công an thị trấn Bình Minh đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Đ cầm 02 gói ma túy ở lòng bàn tay trái. Thu giữ trên tay trái Đ 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy trắng có chữ in màu đen; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX BKS 48C1 - 247.31; 01 ống Novocain 3% và 01 bơm kim tiêm đều chưa qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra Phạm Văn Đ khai nhận: do nhu cầu sử dụng ma túy, sáng ngày 26/7/2023, Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 48C1 - 247.31 từ nhà đến khu vực nghĩa trang phía sau chùa Đồng Đắc thuộc xóm 1, xã Đ, huyện K. Tại đây, Đ gặp, hỏi và mua được của 01 người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó Đ cầm ở lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đ đi đến đoạn đường đê sông Càn thuộc khối 1, thị trấn Bình Minh định mang ma túy ra sử dụng thì bị Tổ công tác của Đồn Biên phòng K phối hợp với Công an thị trấn Bình Minh đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành mở niêm phong 02 gói nhỏ thu giữ của Đ được gói ngoài bằng giấy trắng có chữ in màu đen bên trong đều là chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,27 gam (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 609/KL-KTHS-MT ngày 27/7/2023 của phòng KTHS - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2709 gam, là ma túy, loại Heroine.

01 phong bì niêm phong ghi số 609 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,2225 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy trắng có chữ in màu đen và phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn Đ; 01 ống Novocain 3% và 01 bơm kim tiêm; xe mô tô BKS 48C1 - 247.31 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K giải quyết cùng vụ án.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 9/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 BLHS:

+ Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 609 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,2225 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy trắng có chữ in màu đen và phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn Đ; 01 ống Novocain 3% và 01 bơm kim tiêm.

+ Trả lại 01 xe mô tô BKS 48C1 - 247.31 cho bị cáo.

+ Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến bào chữa, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, sáng ngày 26/7/2023, Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 48C1 - 247.31 từ nhà đến khu vực nghĩa trang phía sau chùa Đồng Đắc thuộc xóm 1, xã Đồng Hướng, huyện K. Tại đây, Đ gặp, hỏi và mua được của 01 người thanh niên không quen biết 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó Đ cầm ở lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đ đi đến đoạn đường đê sông Càn thuộc khối 1, thị trấn Bình Minh định mang ma túy ra sử dụng thì bị Tổ công tác của Đồn Biên phòng K phối hợp với Công an thị trấn Bình Minh đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 35 ngày 26/7/2023, lời khai của người chứng kiến và vật chứng thu giữ được là 01 gói Heroine có khối lượng 0,2709 gam. Tại kết luận giám định số 609/KL-KTHS-MT ngày 27/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2709 gam là ma túy, loại Heroine

Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 40 phút ngày 26/7/2023, tại đoạn đường đê sông Càn thuộc khối 1, thị trấn Bình Minh, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Phạm Văn Đ có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,2709 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật Hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….

c. Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; do đó hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Tình tiết tăng nặng: bị cáo Phạm Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáothành khẩn khai báo ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là con của người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.

Khi lượng hình phạt xét nhân thân bị cáo, tính chất mức độ của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thì mức hình phạt theo đề xuất của Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nguồn gốc Heroine: bị cáo Phạm Văn Đ khai mua của một người thanh niên không quen biết tại khu vực nghĩa trang phía sau chùa Đồng Đắc thuộc xóm 1, xã Đồng Hướng, huyện K. Bản thân Đ không biết tên tuổi địa chỉ của người này, nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K chưa đủ căn cứ để xử lý đối với đối tượng này.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong ghi số 609 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,2225 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy trắng có chữ in màu đen và phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn Đ; 01 ống Novocain 3% và 01 bơm kim tiêm. Đây là những vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô BKS 48C1 - 247.31, qua điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, là phương tiện đi lại của cả gia đình, vợ bị cáo không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên trả lại chiếc xe cho bị cáo sử dụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 18 ( mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2023.

3. Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 609 bên trong có vật chứng còn lại sau giám định ký hiệu M là 0,2225 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói trong gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong có 02 mảnh giấy trắng có chữ in màu đen và phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn Đ; 01 ống Novocain 3% và 01 bơm kim tiêm.

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Văn Đ 01 xe mô tô BKS 48C1 - 247.31

(Chi tiết như trong biên bản bàn giao vật chứng giữa công an huyện K vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 10/11/2023)

4. Án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ