- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Quỳnh T1 - Hoàng Anh T2"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Quỳnh T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-7-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Lành và ông Nguyễn Bá Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Quỳnh T1, sinh năm 1994.
Nơi đăng ký thường trú: 33/1 đường H, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Chỗ ở hiện nay: 51/2 đường V, phường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
2. Bị đơn: Anh đườn, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 94/35 đường Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn là chị Đinh Thị Quỳnh T1 trình bày:
Chị và anh Hoàng Anh T2 tự nguyện tìm hiểu và quyết định tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 01-6-2018.
Trong quá trình chung sống, chị và anh T2 phát sinh nhiều mâu thuẫn, quan điểm sống bất đồng, anh T2 thường xuyên đi nhậu không thực hiện nghĩa vụ chăm lo cho gia đình và con cái, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh T2 có 2 lần bạo lực gia đình làm ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của chị. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không thể hòa hợp và chị không thể tiếp tục chung sống với anh T2 được nữa; từ tháng 4 năm 2023 đến nay, chị đã thuê nhà để sinh sống. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T2.
Chị và anh T2 có hai con chung là cháu Hoàng Gia H1, sinh ngày 17-11-2018 và cháu Hoàng Trọng H2, sinh ngày 15-01-2020.
Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H2; anh T2 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H1; không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.
2. Bị đơn là anh Hoàng Anh T2 trình bày:
Anh và chị Đinh Thị Quỳnh T1 tự nguyện tìm hiểu và quyết định tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai ngày 01-6-2018.
Thời gian quá trình chung sống, anh và chị T1 có xảy ra mâu thuẫn nhỏ, tuy nhiên anh nhận thấy chưa đến mức phải ly hôn vì khi ly hôn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hai con chung. Gia đình chị T1 có tiền sử ly hôn nhiều đời trước nên đối với chị T1 việc đó rất bình thường. Anh không muốn các con tiếp tục được giáo dục theo hướng đó, đi vào vết xe đổ của gia đình chị T1. Bên cạnh đó, chị T1 không đủ khả năng nuôi nấng, giáo dục, bảo vệ cho các con vì chị T1 đã nhiều lần gây tai nạn cho con và chính bản thân chị T1. Vì những lý do đó, để không ảnh hưởng đến các con, anh không chấp nhận ly hôn.
Thời gian gần đây, anh đã nhiều lần thuyết phục chị T1 nhưng chị T1 vẫn kiên quyết ly hôn; vì vậy, tại phiên toà, anh đồng ý ly hôn với chị T1.
Anh và chị T1 có hai con chung là cháu Hoàng Gia H1, sinh ngày 17-11-2018 và cháu Hoàng Trọng H2, sinh ngày 15-01-2020.
Trong trường hợp chị T1 cương quyết ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung. Nếu chị T1 chấp nhận giao hai con cho anh thì anh sẽ đồng ý ly hôn. Anh không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng cho con.
Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu về ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Đinh Thị Quỳnh T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn với anh Hoàng Anh T2 và tranh chấp về nuôi con; anh Hoàng Anh T2 có nơi cư trú tại thành phố P nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên: Theo Biên bản ghi nhận ý kiến của người khởi kiện về việc lựa chọn hòa giải, lựa chọn Hòa giải viên ngày 30-3-2023, chị Đinh Thị Quỳnh T1 không đồng ý lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân:
Chị Đinh Thị Quỳnh T1 và anh Hoàng Anh T2 đăng ký kết hôn ngày 01-6-2018 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị T1 và anh T2 phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh chị không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó. Mặc dù, đã được hai bên gia đình nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng anh chị vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau.
Chính vì vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân của họ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được nên yêu cầu của chị T1 về việc ly hôn anh T2 là có căn cứ, được chấp nhận.
Về con:
Chị T1 và anh T2 có hai con chung là cháu Hoàng Gia H1, sinh ngày 17-11-2018 và cháu Hoàng Trọng H2, sinh ngày 15-01-2020.
Anh T2 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng cho con; chị T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2 và đề nghị anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1.
Hội đồng xét xử thấy rằng sự mong muốn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị T1 và anh T2 là hoàn toàn chính đáng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, thì Toà án quyết định việc giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Các đương sự đều có đủ khả năng, điều kiện trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con bao gồm cả khả năng bảo vệ trẻ khỏi bị xâm hại và môi trường sống, giáo dục của trẻ; để bảo đảm ổn định tâm lý, tình cảm của trẻ em và đảm bảo được cuộc sống và sự phát triển bình thường về mọi mặt cho các con.
Hội đồng xét xử sẽ giao cháu H1 cho anh T2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu H2 cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Hội đồng xét xử giao cháu H1 cho anh T2 và cháu H2 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng nên chị T1 và anh T2 không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị T1 và anh T2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Chị T1 là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Quỳnh T1.
1.1. Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Quỳnh T1 ly hôn anh Hoàng Anh T2.
1.2. Về con: Giao cháu Hoàng Gia H1 cho anh Hoàng Anh T2 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Hoàng Gia H1 thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; giao cháu Hoàng Trọng H2 cho chị Đinh Thị Quỳnh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Hoàng Trọng H2 thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
2. Về án phí:
Chị Đinh Thị Quỳnh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000201 ngày 06-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; chị Đinh Thị Quỳnh T1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày 27-7-2023.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P; - Các đương sự; - UBND phường D, thành phố P (GCNKH số 50, đăng ký ngày 01-6-2018); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Thị Thanh Huyền |