vanban.org

Bản án 70/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Lê Công K.

Về con chung: Chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Công Tuấn A, sinh ngày 05/4/2019 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Lê Công K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 236/2016/TT-BTC Quy định về giá dịch vụ thẩm địn…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TH
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 70/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 25-9-2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhung

2. Ông Trần Xuân Viện

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Đại – Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989; nơi thường trú: Xóm L, xã B, huyện Đ, tỉnh TH; tạm trú: Xóm S, xã Q, thành phố TH, tỉnh TH

* Bị đơn: Anh Lê Công K, sinh năm 1989; nơi thường trú: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh TH; tạm trú: Xóm S, xã Q, thành phố TH, tỉnh TH

(Có mặt chị T, vắng mặt anh K)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

* Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh K kết hôn ngày 28/9/2018, trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh TH. Quá trình chung sống vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh K không chịu làm ăn mải chơi va vào tệ nạn xã hội từ cuối năm 2021 dẫn đến không quan tâm đến gia đình, vợ con. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, xin ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Lê Công Tuấn A, sinh ngày 05/4/2019 hiện đang ở với mẹ. Chị T có nguyện vọng được nuôi con. Không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Công K thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thỉnh thoảng một, hai tháng mới về nhà. Tòa án đã tiến hành xác minh và thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của anh K nhưng anh K không có mặt để giải quyết vụ án. Nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và phải đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và thư ký: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự như xác định thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp; Chấp hành đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử; Tại phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T, chị T được ly hôn với anh Lê Công K; Về con chung: Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Công Tuấn A, sinh ngày 05/4/2019 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh K được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

* Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị T xác định không có và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo quy định tại điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T và anh K đều đang sinh sống tại thành phố TH, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt anh K mặc dù được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Lê Công K kết hôn ngày 28/9/2018 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh TH nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Lý do chị T xin ly hôn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh K không chịu làm ăn mải chơi va vào tệ nạn xã hội từ cuối năm 2021, thường xuyên vắng nhà dẫn đến không quan tâm đến gia đình, vợ con. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị T và anh K không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do đó, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp với thực tế quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị T và anh K có một con chung là Lê Công Tuấn A, sinh ngày 05/4/2019, hiện đang ở với mẹ. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Để đảm bảo quyền về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử cần giao con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Điều 81. Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

“ .....

2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phạm Thị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 236/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Lê Công K.

2. Về con chung: Chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Công Tuấn A, sinh ngày 05/4/2019 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000962 ngày 23/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Công K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ