vanban.org

Bản án 70/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thùy L đối với ông Huỳnh Văn T, cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thùy L được ly hôn với ông Huỳnh Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thùy Linh - Huỳnh Văn Thi"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23/8/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Thuở

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Anh Giàu

2.Bà Nguyễn Thị Trúc Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cẩm Trang - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 215/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2023/QĐST-DS ngày 03/8/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thùy L, sinh năm 1988

Địa chỉ: 106/6B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh A, thành phố B, tỉnh B (có mặt)

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1985

Địa chỉ: 106/6B ấp Mỹ An B, xã Mỹ Thạnh A, thành phố B, tỉnh B(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Thùy L trình bày:

Bà và ông Huỳnh Văn T kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Văn Tr, sinh ngày 18/11/2011, hiện đang sống với tôi. Hiện tại bà và ông T đã bất đồng quan điểm, không còn tình cảm, không còn tin tưởng nhau, thường xuyên gây gỗ dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, do đó ly hôn là cách tốt nhất để có cuộc sống tự do cho mỗi người. Bà yêu cầu ly hôn với ông T, yêu cầu được nuôi con, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi, tài sản chung và nợ chung không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn T vắng mặt nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thùy L đối với ông Huỳnh Văn T , cụ thể: Về quan hệ hôn nhân, bà L được ly hôn với ông T. Về con chung, bà L được quyền trực tiếp nuôi cháu Huỳnh Văn Trung, sinh ngày 18/11/2011, ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, bị đơn có nơi cư trú tại xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre nên quan hệ pháp luật là tranh chấp Ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo quy định tại Điều 28, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, đồng thời Tòa án đã triệu tập ông T hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Bà Lê Thị Thùy L và ông Huỳnh Văn T kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà L yêu cầu ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T đều vắng mặt, cũng như không có ý kiến phản đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Do đó có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của bà L ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông T.

[5] Bà Lê Thị Thùy L và ông Huỳnh Văn T có 01 con chung là Huỳnh Văn Trung, sinh ngày 18/11/2011. Bà L yêu cầu được nuôi cháu Tr, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi cháu Trđủ 18 tuổi. Xét thấy để cháu Tr phát triển ổn định, toàn diện và phù hợp với nguyện vọng của cháu Tr (muốn sống với bà L) nên giao cháu Trung cho bà L trược tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con chưa thành niên thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do đó, ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trung mỗi tháng là 2.000.000 đồng nđến khi cháu Tr đủ 18 tuổi.

[6] Về tài sản chung và nợ chung : Bà L khai bà và ông T không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (cấp dưỡng)

[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thùy L đối với ông Huỳnh Văn T, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thùy L được ly hôn với ông Huỳnh Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Văn Tr, sinh ngày 18/11/20211 cho bà Lê Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Văn T có trách nhiệm cấp dưỡng cháu Huỳnh Văn Tr mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Thùy L khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí:

- Bà Lê Thị Thùy L phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002902 ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Chi cục T hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (Bà L đã nộp xong án phí).

- Ông Huỳnh Văn T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

- Bà Lê Thị Thùy L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Ông Huỳnh Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp quyết định được T hành theo quy định tại Điều 2 Luật T hành án dân sự thì người được T hành án dân sự, người phải T hành án dân sự có quyền thỏa thuận T hành án, quyền yêu cầu T hành án, tự nguyện T hành án hoặc bị cưỡng chế T hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật T hành án dân sự; thời hiệu T hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T hành án dân sự.

Cỡ chữ