- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim X ly hôn Nguyễn Phúc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim X đối với ông Nguyễn Phúc L về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 3 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đổi.
Ông Phạm Duy Thương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 20 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 48/2023/QĐST – HNGĐ ngày 14/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Chung cư 603B, T A, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phúc L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Chung cư 603B, T A, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Ấp Tân Qui Hạ, xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 21 tháng 3 năm 2023 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim X trình bày: Bà và ông L sống với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T A, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Nay thấy tình cảm không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông L.
Con chung: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 05/11/2019. Con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà xin được quyền nuôi con, yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 4/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Bà xin được quyền nuôi con vì các vấn đề như sau: Con hiện đang ở với bà và được ông bà ngoại chăm sóc, ông bà ngoại còn trẻ, đủ sức khỏe để chăm sóc cháu; Hiện bà đang làm theo ca ở căntin tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Long An nên có thời gian ở nhà chăm sóc con; Công việc của bà có thu nhập ổn định, mỗi tháng từ 8.000.000đồng -10.000.000đồng; Trong khi ông L những tháng gần đây không phụ tiền cho bà nuôi con; Ba mẹ ông L lớn tuổi, không thể chăm sóc cháu; Gia đình ông L có mối quan hệ không tốt với nhau. Số tài sản 12 công đất và mặt bằng nhà như ông L trình bày là không đúng, đó không phải là tài sản của ông L mà của cha mẹ ông L; Hiện ông L xin nghĩ làm ở công ty, không có thu nhập ổn định.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Phúc L trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa: Ông xác nhận lời trình bày của bà X về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là đúng. Vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay bà X xin ly hôn, ông đồng ý.
Con chung: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 05/11/2019. Con hiện đang sống với bà X. Nay ly hôn, ông xin được quyền nuôi con, không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con.
Lý do ông xin được quyền nuôi con: Bà X đi làm theo ca, thời gian không ổn định; Thu nhập bà X không cao; Trong khi đó, hiện nay ông đã nghĩ việc ở nơi làm xa, về quê, ba mẹ ông trực tiếp giao ông canh tác 12 công dừa, thu nhập ổn định, mỗi tháng từ 6.000.000đồng trở lên và có mặt bằng cho thuê mỗi tháng 15.000.000đồng; Ba mẹ ông hàng tháng đều nhận được lương hưu và trung bình hơn 7.000.000đồng/tháng nên có đầy đủ khả năng nuôi dưỡng cháu.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Nếu Tòa án giao con chung cho bà X nuôi, ông đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con từ tháng 4/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục nhưng kết quả hòa giải đoàn tụ không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim X khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Phúc L; ông L có hộ khẩu thường trú tại Chung cư 603B, T A, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh, tạm trú tại ấp Tân Qui Hạ, xã T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, đồng thời bà X và ông L đều thống nhất chọn Tòa án huyện Đức Hòa giải quyết vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim X và ông Nguyễn Phúc L chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T A, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Xét thấy, bà Nguyễn Thị Kim X và ông Nguyễn Phúc L đều trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã giải quyết nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Ông bà cũng không thể tự khắc phục được những mâu thuẫn đó. Nay ông bà thống nhất tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn nên bà X yêu cầu ly hôn, ông L đồng ý.
Từ phân tích trên, thấy rằng hôn nhân giữa bà X và ông L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà X đối với ông L là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Bà X và ông L thống nhất có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 05/11/2019. Từ khi ly thân cho đến nay, bà X là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu An. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà X và ông L đều có yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, bà X yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng; ngược lại ông L không yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi ông bà xa nhau đến nay, bà X là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bà X vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường và cuộc sống ổn định cho con chung. Hơn nữa, cháu H là con gái, cần sự chăm sóc và gần gũi của mẹ hơn. Ngoài ra, bà X có cung cấp bảng lương, thể hiện có thu nhập ổn định, trong khi đó ông L không cung cấp được chứng cứ thể hiện rằng ông có thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là cháu An cho bà X tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về cấp dưỡng: Bà X yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con, ông L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 4/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Xét sự thỏa thuận cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận.
. Về tài sản chung: Bà X và ông L thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về nợ chung: Bà X và ông L thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim X phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, ông L phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, 273, 483 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim X đối với ông Nguyễn Phúc L về việc “Ly hôn”.
- Bà Nguyễn Thị Kim X được ly hôn với ông Nguyễn Phúc L.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim X được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 05/11/2019; Ông Nguyễn Phúc L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 4/2023 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con
Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim X và ông Nguyễn Phúc L thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập, xem xét.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim X và ông Nguyễn Phúc L thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập, xem xét.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim X phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, sung ngân sách Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0008034 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.
Ông Nguyễn Phúc L phải chịu 300.000đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con. Ông L có trách nhiệm nộp số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND huyện Đức Hòa;
- UBND phường Tân Nhơn Phú A, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
Nguyễn Thị Kim Cương
- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Kim Tiến – Lê Văn Bạo
Trần Thị Kim Thảnh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Kim Tiến – Lý Văn Hùng
Trần Thị Kim Thảnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND tỉnh Long An;
- VKSND huyện Đức Hòa;
- UBND xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
Trần Thị Kim Thảnh
- Lưu hồ sơ.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:
Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:
(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).
(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).
(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.
(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).
(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).
(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.
(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.
(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.
(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).
(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).
(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.
(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.
Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).
Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).
(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.
(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).
(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).
(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).
(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).
(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).
(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.
(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].
(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.
(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Toà án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng dân sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |