- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dương Huỳnh Duy H, và Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HS-ST Ngày: 26-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tất Ái .
2. Bà Lê Thị Thu Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Yến Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Ngân Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 07 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Dương Huỳnh Duy H (D điên), sinh năm 1989, ta ̣i tỉnh T; Nơi cư trú và chỗ ở : Số 53 đường Phan Hiển Đạo, phường 7, thành phố M, tỉnh T; Nghề nghiê ̣p: Không; Trình độ học vấn 05/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; con ông Dương Văn D sinh năm 1954 và bà Huỳnh Thanh N sinh năm 1989; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Dương Huỳnh N sinh năm 1993, có 01 con sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Về nhân thân:
- Ngày 20/7/2006, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố M, tỉnh T khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 06/11/2006, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh T ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can do phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi ở tuôi vị thành niên, đã khắc phục xong hậu quả.
- Ngày 15/11/2006, Công an thành phố M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 500.000 đồng về hành vi gây thương tích cho người khác (Quyết định số 500/QĐ/XPHC).
- Ngày 17/01/2008, H bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 05 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 10/2008/HSST. Ngày 21/3/2008 Tòa án nhân dân tỉnh T xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm xử phạt H 03 năm tù giam theo Bản án số 39/2008/HSPT. Được đặc xá ngày 17/01/2009, đã được xóa án tích.
- Ngày 11/12/2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố M áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh T với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 7978/QĐ-UBND. Chấp hành xong ngày 27/9/2015.
- Ngày 14/01/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”, theo bản án số 05/2022/HSST ngày 14/01/20222
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2021, chuyển tạm giam từ ngày 22/4/2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M.
Bị cáo có mặt ta ̣i phiên tòa.
2. Nguyễn Minh T , sinh năm 1980 ta ̣i: tỉnh Tiền G; Nơi cư trú: 228C Bis khu phố 7, phường 3, thành phố M, tỉnh Tiền G; Chỗ ở : Số 622 huyện lộ 87, tổ 16, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh T; Nghề nghiê ̣p: Bảo vệ ; Trình độ học vấn 04/12; dân tộc: Kinh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Minh Q sinh năm 1953 và bà Trương Thị Ngọc C sinh năm 1957; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Bích L và 02 con sinh năm 2013 và 2018 ; Tiền sự: Không có; Tiền án: không có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú số 60 ngày 23/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố M.
Bị cáo có mặt ta ̣i phiên tòa.
* Người bào chữa của bị cáo Dương Huỳnh Duy H: luật sư Dương Thị Kim L – thuộc văn phòng luật sư Kim L, Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Thanh N, sinh năm 1961, có mặt
Nơi cư trú: số 53 đường Phan Hiến Đạo, phường 7, thành phố M, tỉnh T.
- Nguyễn Minh T, sinh năm 1985, xin vắng
Nơi cư trú: số 204B tổ 12, khu phố 2, phường 10, thành phố M, tỉnh T.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Chí Phát H, sinh năm 1985, vắng mặt
Nơi cư trú: ấp Mỹ Thạnh, xã M, thành phố M, tỉnh T.
- Trần Ngọc V, sinh năm 1974, vắng mặt
Nơi cư trú: số 705 tổ 16, ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Huỳnh Duy H là đối tượng nhiện ma túy và có 02 lần tàng trữ ma túy để sử dụng:
Lần 1;
Lúc 11 giờ 30 phút ngày 11/01/2021, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh T kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M và Công an Phường 1, thành phố M tiến hành kiểm tra phòng số 405, khách sạn Cửu Long, địa chỉ số 83, đường 30/4, Phường 1, thành phố M phát hiện Dương Huỳnh Duy H cùng 10 đối tượng khác có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Trên cơ sở đó, ngày 14/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với Dương Huỳnh Duy H cùng 10 đối tượng để tiến hành điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra đã trích xuất camera trước cửa phòng 405 khách sạn Cửu Long ngày 11/01/2021 xác định: Dương Huỳnh Duy H cùng 03 đối tượng khác từ trong phòng 405 của khách sạn Cửu Long bước ra, trong đó có một đối tượng làm rơi bịch nylon màu trắng có viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng xuống nền gạch. Sau đó, Nguyễn Minh T là nhân viên bảo vệ khách sạn Cửu Long đi đến trước cửa phòng 405 nhặt bỏ vào túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người. Đến ngày 04/02/2021, Cơ quan điều tra mời làm việc, T tự nguyện giao nộp bịch nylon chứa tinh thể màu trắng nêu trên do Thành cất giấu tại nhà cho Cơ quan điều tra.
Căn cứ Kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09 ngày 06/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, có viền màu đỏ một đầu được dán miếng băng keo hai mặt màu trắng để trong một bì thư màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh T, Trần Ngọc V, Trần Thanh Dvà hình dấu tròn màu đỏ có nội dung CÔNG AN XÃ TÂN MỸ CHÁNH - CÔNG AN THÀNH PHỐ M - TỈNH T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3815 gam loại Ketamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Các mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng là 1,2895 gam, được niêm phong trong 01 bì thư ký hiệu vụ số 34 ghi ngày 06 tháng 02 năm 2021. Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đĩa DVD chứa nội dung 03 đoạn video ghi lại hình ảnh ngoài hành lang trước cửa phòng 405 khách sạn Cửu Long thời gian từ 00 giờ 45 phút đến 11 giờ 00 phút ngày 11/01/2021.
Căn cứ Kết luận giám định số 169/GĐ-PC09 ngày 24/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: 03 đoạn video không bị cắt ghép, chỉnh sửa; Đối tượng số 1 (mặc áo thun tay ngắn màu đen, quần jean dài màu xanh) là người làm rơi bịch nylon màu trắng trước cửa phòng 405, làm rơi từ vị trí giữa quai dép và mặt trong bàn chân phải (gần mắt cá trong) xuống nền gạch (chi tiết thể hiện trong bản ảnh kèm theo); Đối tượng số 2 (mặc quần áo bảo vệ) nhặt bịch nylon màu trắng (chi tiết thể hiện trong bản ảnh kèm theo).
Qua giám định hình ảnh đã xác định, người làm rơi bịch nylon màu trắng qua giám định là ma túy trước cửa phòng 405 khách sạn Cửu Long là Dương Huỳnh Duy H. Tại Cơ quan điều tra, H thừa nhận chính H là người làm rơi bịch ma túy nêu trên và khai nhận: Sau khi đã có uống rượu, khoảng 01 giờ ngày 11/01/2021, H cùng nhóm bạn đến phòng 405 khách sạn Cửu Long để tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Minh T, sinh năm 1985, ngụ số 204B, Tổ 12, khu phố 2, Phường 10, thành phố M đến vào phòng 405 khách sạn Cửu Long. Tại đây, Tuấn lấy ma túy ra cho cả nhóm cùng sử dụng. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày T ra về, trước khi ra về Tuấn nhét bịch ma túy vào túi quần Jean bên phải phía trước của H đang mặc trên người và nói với H “để bịch ma túy lại anh em sử dụng”. Sau đó, H cùng Ngô Duy L, sinh năm 1984, ngụ số 12/4, đường Nguyễn Văn Nguyễn, Phường 8 và Nguyễn Nhật T, sinh năm 1983, ngụ số 102/1, đường Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, cùng thành phố M đưa T ra về. Do túi quần bị rách nên khi H vừa bước ra khỏi phòng 405 thì làm rơi bịch ma túy xuống nền gạch nhưng H không biết.
Đối với Nguyễn Minh T qua đối chất với Dương Huỳnh Duy H thì T không thừa nhận có nhét bịch ma túy vào túi quần Jean phía trước bên phải của H nên chưa đủ căn cứ để xử lý T đồng phạm trong vụ án.
Lần 2:
Lúc 23 giờ 50 phút ngày 12/4/2021, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M và Công an xã Mỹ Phong, thành phố M tiến hành kiểm tra nơi ở của Dương Huỳnh Duy H tại nhà không số thuộc tổ 4, ấp Mỹ Thạnh, xã M, thành phố M đã phát hiện H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng ngủ, vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nylon màu trắng có dây kéo, bên trong có 03 gói nylon màu trắng có viền màu đỏ, trong đó: 01 gói nylon có chứa chất tinh thể màu trắng, một gói nylon có chứa một viên nén màu xanh và 01 viên nén màu vàng; 01 gói nylon bên trong rỗng. Tất cả cho vào gói niêm phong dạng bao thư màu trắng có chữ ký ghi họ tên người bị bắt Dương Huỳnh Duy H, người chứng kiến Nguyễn Chí Hưng P, điều tra viên Trần Tấn Đ và dấu tròn màu đỏ của Công an xã Mỹ Phong, thành phố M, tỉnh T (ký hiệu số 1).
Đến 02 giờ 20 phút ngày 13/4/2021, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Huỳnh Duy H cũng tại nhà không số nêu trên thuộc tổ 4, ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Phong, thành phố M phát hiện thu giữ: + Một (01) đĩa sứ màu trắng trên bề mặt đĩa có một tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng tiền Việt Nam được cuộn tròn lại và có nhiều chất bột màu trắng bám vào bề mặt đĩa. + Một (01) chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng trên nắp có gắn một ống thủy tinh màu trắng uống cong và đầu phình to, một ống hút nhựa màu trắng. + Hai (02) bịch nylon (có kích thước lớn nhỏ khác nhau) màu trắng có viền màu đỏ bên trong rỗng; 01 tờ Polime mệnh giá 20.000 đồng tiền Việt Nam cuộn tròn; 01 tờ Polime mệnh giá 50.000 đồng tiền Việt Nam cuộn tròn; 01 tờ Polime mệnh giá 10.000 đồng tiền Việt Nam cuộn tròn; 01 tờ giấy mệnh giá 1.000 đồng tiền Việt Nam cuộn tròn và 01 ống hút nhựa màu xanh có một đầu nhọn.
+ Mộ(01) túi da màu đen có dây kéo bằng kim loại bên trong có một khẩu súng bằng kim loại màu đen có dãy chữ và số 19TH6694 bên trong hộp tiếp đạn có 06 viên đạn bằng kim loại màu vàng, đầu viên đạn màu đen.
+ Một (01) két sắt màu đen, cửa màu trắng kích thước (40,5x48x35)cm, trên cửa két sắt có dòng chữ YUNIKA SAF. Tại thời điểm kiểm tra két sắt đang khóa không kiểm tra bên trong.
+ Tiền Việt Nam 48.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 8600 Luna màu đen trắng;
+ Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia 6700 màu trắng bạc;
+ Một (01) điện thoại di động màu hồng phía sau có chữ Vertu C-067931;
+ Một (01) điện thoại di động hiệu Nokia màu xám;
+ Ba (03) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng (trong đó một chiếc nhẫn đính một viên đá màu trắng, hai chiếc còn lại là nhẫn trơn);
+ Một (01) chiếc bông tai bằng kim loại màu trắng không có đầu vặn có đính một viên đá màu trắng.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Huỳnh Duy H khai nhận: Vào đêm ngày 10/4/2021, H đi đám cưới nhà bạn ở xã Phú Phong, huyện C, tỉnh T và quen 04 người bạn (không rõ họ tên địa chỉ) tại đám cưới. Sau đó, nhóm bạn này rủ Hưng đến quán Karaoke XO trên đường Nguyễn Minh Đường, thuộc xã Đ, thành phố M để uống rượu và sử dụng ma túy. Khi H vào tới quán Karaoke XO thấy có sẵn ma túy trên đĩa (ma túy loại “Khây”) và 01 bịch ma túy để trên bàn, lúc này có 01 người trong nhóm 04 người đưa cho H ½ viên thuốc lắc để sử dụng và H có sử dụng thêm một ít ma túy có sẵn trên đĩa. Sau khi uống rượu và sử dụng ma túy xong thì nhóm bạn ra về, ma túy chưa sử dụng hết để lại. H lấy số ma túy trong đĩa đổ vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gói lại cho vào bao thuốc lá, rồi đem tất cả số ma túy còn dư đem về nhà cất giữ. H cất tại phòng ngủ bịch ma túy dạng “Khây” và thuốc lắc; số ma túy gói trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng H đổ vào đĩa cất vào trong học tủ ti vi tại phòng khách để nhằm mục đích sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang. Đối với các tờ giấy bạc đã thu giữ được cuộn tròn H dùng làm công cụ để sử dụng ma túy.
Căn cứ Kết luận giám định số 60/KLGĐ-PC09 ngày 14/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Gói 1: Các mẫu gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,4383 gam (Trong đó: Mẫu tinh thể màu trắng ký hiệu M1 có khối lượng 1,1253 gam loại Ketamine; Mẫu viên nén màu xanh ký hiệu M2.1 có khối lượng 0,1449 gam, loại MDMA và mẫu viên nén màu vàng ký hiệu M2.2 có khối lượng 0,1681 gam, loại MDMA); Gói 2: Các mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7394 gam, loại Ketamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Các mẫu ký hiệu M1, M2.1, M2.2 và M3 còn lại sau giám định có khối lượng lần lượt là: 1,0342 gam, 0,0876 gam, 0,1157 gam và 0,6968 gam được niêm phong trong 02 bì thư ký hiệu lần lượt vụ số 60/1 và 60/2 ghi ngày 14 tháng 4 năm 2021; Một đĩa sứ màu trắng; Một chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng trên nắp có gắn một ống thủy tinh màu trắng uống cong và đầu phình to, một ống hút nhựa màu trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh có một đầu nhọn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý.
Đối với 04 người bạn sử dụng ma túy chung với H tại quán Karaoke XO. Do H mới quen trong lúc đi đám cưới và không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã trao trả tài sản đã thu giữ của H gồm: 01 két sắt màu đen; tiền Việt Nam 48.000.000 đồng; 04 điện thoại di động; 03 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng và 01 chiếc bông tai bằng kim loại màu trắng cho bị can H, do bà Huỳnh Thanh N, sinh năm 1961, ngụ số 53, đường Phan Hiển Đạo, Phường 7, thành phố M, tỉnh T (mẹ ruột H) đại diện nhận. Đối với các tờ tiền Polime được cuộn tròn gồm: 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển các tờ tiền trên vào tài khoản kho bạc của Công an thành phố M chờ xử lý.
Đối với vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xảy ra ngày 11/01/2021 tại khách sạn Cửu Long và hành vi “Tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng” của H được Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án và xử lý trong vụ án khác.
Nguyễn Minh T là nhân viên bảo vệ của khách sạn Cửu Long, sau khi Dương Huỳnh Duy H làm rơi bịch nylon màu trắng có viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng xuống nền gạch trước phòng 405 của khách sạn Cửu Long thì Nguyễn Minh T đã nhặt bỏ vào túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người. Đến ngày 04/02/2021, Cơ quan điều tra mời làm việc, T tự nguyện giao nộp bịch nylon chứa tinh thể màu trắng nêu trên do T cất giấu tại nhà cho Cơ quan điều tra.
Tại cơ quan điều tra, T khai nhận: Khoảng 04 giờ ngày 11/01/2021, T đang trực bảo vệ dưới sảnh khách sạn Cửu Long thì quản lý khách sạn kêu T lên phòng 405 nhắc nhở do làm ồn, khi T đến trước cửa phòng 405 thấy bịch nylon dưới nền gạch T nghi là ma túy nên nhặt bỏ vào túi quần phía sau bên trái đang mặc trên người. Đến 06 giờ cùng ngày, T đem về nhà số 622, Tổ 16, ấp Bình Phong, xã T, thành phố M cất giấu bằng cách dùng băng keo hai mặt dán vào bịch nylon rồi dán vào phía bên dưới tủ gỗ trong phòng ngủ nhằm mục đích khi nào Công an mời sẽ giao nộp. Đến ngày 04/02/2021, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M mời làm việc T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSMT ngày 20/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho truy tố bị cáo Dương Huỳnh Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 và Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự,
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Huỳnh Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 và Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Hkhông thành khẩn khai báo, quanh co chối tội không có ý ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Huỳnh Duy H từ 05 năm đến 05 năm 6 tháng tù. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 12 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và Một đĩa sứ màu trắng; Một chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng trên nắp có gắn một ống thủy tinh màu trắng uống cong và đầu phình to, một ống hút nhựa màu trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh có một đầu nhọn.
Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với các tờ tiền Polime được cuộn tròn gồm: 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Huỳnh Duy H không thống nhất nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, bị cáo khai nhận: Sau khi đã có uống rượu, khoảng 01 giờ ngày 11/01/2021, H cùng nhóm bạn đến phòng 405 khách sạn Cửu Long để tiếp tục uống rượu. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Minh T, sinh năm 1985, ngụ số 204B, Tổ 12, khu phố 2, Phường 10, thành phố M đến vào phòng 405 khách sạn Cửu Long. Tại đây, T lấy ma túy ra cho cả nhóm cùng sử dụng. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày T ra về, trước khi ra về T nhét 01 bịch nylon vào túi quần Jean bên phải phía trước của H đang mặc trên người và nói với H “để bịch ma túy lại anh em sử dụng”. Sau đó, H cùng Ngô Duy L, sinh năm 1984, ngụ số 12/4, đường Nguyễn Văn Nguyễn, Phường 8 và Nguyễn Nhật T, sinh năm 1983, ngụ số 102/1, đường Lê Thị Hồng Gấm, Phường 6, cùng thành phố M đưa T ra về. Do túi quần bị rách nên khi H vừa bước ra khỏi phòng 405 thì làm rơi bịch nylon xuống nền gạch nhưng H không biết. Thời điểm T nhét bịch nylon vào túi quần H đã say và có sử dụng ma túy nên không nhìn thấy T trực tiếp nhét vào túi quần mà chỉ nghe T nói, nên không xác định có bịch nylon có phải là ma túy không, cũng không nhìn thấy hình dạng gói nylon trên nên bị cáo không thống nhất có hành vi tàng tữ trái phép chất ma túy vào ngày 11/01/2021 tại khách sạn Cửu Long.
Bị cáo Nguyễn Minh T nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về hình phạt và xử lý vật chứng.
Người bào chữa cho bị cáo H tại phiên tòa thống nhất với một phần nội dung bản cáo trạng, thống nhất bị cáo H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 12/4/2021 và không thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo về tội danh tàng trữ trái phép chất ma túy tại khách sạn Cửu Long vào ngày 11/01/2021. Bởi vì, căn cứ vào hồ sơ vụ án, có sự không thống nhất trong các kết luận giám định về tang vật của vụ án, có sự không thống nhất đối với bịch nylon màu trắng và bịch nylon màu trắng viền đỏ. Theo kết luận giám định hình ảnh chưa xác định thời gian bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy, cùng với việc T không thừa nhận nhét ma túy vào túi quần của H. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo T khai nhận việc mô tả chi tiết đối với bịch nylon nhặt tại cửa phòng 405 và bịch nylon được cơ quan chức năng thu giữ là hoàn toàn không trùng khớp, một gói ở dạng bột màu trắng, một gói ở dạng tinh thể trong suốt. Việc truy tố bị cáo H dựa vào lời khai của T cho rằng không có sự tác động hay thay đổi hiện trạng gói nylon nhặt ở khách sạn mang về, tuy nhiên bị cáo T cùng chung sống với người thân tại nơi cất giữ gói nylon và tại phiên tòa T khẳng định không cung cấp được chứng cứ là không có sự thay đổi hiện trạng gói nylon đã nhặt mang về nhà cất giữ. Ngoài ra, việc cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc quần jeans bị rách mà H đã mặc vào ngày 11/01/2021 cũng phần nào ảnh hưởng đến việc chứng minh phạm tội của H. Từ những lập luận trên, đề nghị HĐXX áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật tố tụng hình sự xem xét xét xử bị cáo H không đủ yếu tố cấu thành trong lần phạm tội ngày 11/01/2021 và áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo H theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời áp dụng tình tiết giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt bởi vì tại phiên tòa bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.
Trong phần đối đáp, đại diện Viện kiểm sát cho rằng lời khai của bị cáo H chỉ nhằm chối bỏ hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa bị cáo H cũng thừa nhận lời khai tại cơ quan điều tra không bị ép cung dùng nhục hình tuy nhiên vẫn có sự không thống nhất trong lời khai tại tòa thể hiện sự không thành khẩn khai báo của bị cáo trước hội đồng xét xử. Sau khi bị cáo không thừa nhận và thay đổi lời khai tại phiên tòa ngày 23/5/2022 thì VKS đã tiến hành xác minh hiện nay bị cáo T không hề sử dụng ma túy cũng như không thuộc vào đối tượng quản lý về ma túy ở địa phương nên việc bị cáo T có tác động thay đổi gói nylon nhặt được ở khách sạn trước khi giao nộp là không có khả năng, do vậy khẳng định gói nylon mà bị cáo H đánh rơi ở khách sạn là gói nylon bị cáo T giao nộp là ma túy. Đối với việc bị cáo T khai không thống nhất chi tiết gói ma túy ở dạng gì là do bị cáo không có khả năng diễn đạt và bị cáo từ đầu đến nay luôn khẳng định gói nylon nhặt được tại khách sạn là gói nylon đã giao nộp nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ ma túy như trên nên không chấp nhận đề nghị của luật sư về việc thay đổi khung hình phạt áp dụng cho bị cáo H và vẫn giữ nguyên quan điểm theo nội dung bản Cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Việc bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội, sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, biên bản về việc đương sự tự nguyện giao nộp chất nghi là ma túy ngày 04/02/2021, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cở sở kết luận: Ngày 04/2/2021, tại nhà số 622, Tổ 16, ấp Bình Phong, xã T, thành phố M, tỉnh T, Nguyễn Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 1,3815 gam ma túy loại Ketamine. Do đó bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
. Đối với hành vi phạm tội của Dương Huỳnh Duy H, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/4/2021, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cở sở kết luận vào lúc 23 giờ 50 phút ngày 12/4/2021, tại nhà không số thuộc tổ 4, ấp Mỹ Thạnh, xã M, thành phố M, tỉnh T, Dương Huỳnh Duy H bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 1,8647 gam loại Ketamine và 0,3130 gam loại MDMA, nhằm mục đích sử dụng. Tuy nhiên, bị cáo H không thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép 1,3815 gam ma túy loại Ketamine vào ngày 11/01/2021, tại khách sạn Cửu Long, địa chỉ số 83 đường 30/4, Phường 1, thành phố M, tỉnh T theo nội dung bản cáo trạng đã nêu.
. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào hồ sơ vụ án thì ngoài đoạn trích xuất camera trước cửa phòng 405 của khách sạn Cửu Long ghi nhận hình ảnh bị cáo H có làm rơi một gói nylon màu trắng viền đỏ xuống nền gạch trước cửa phòng và lời khai nhận của bị cáo T về việc có nhặt trước cửa phòng 405 của Khách sạn Cửu Long một gói nylon màu trắng, và đem về nhà cất giữ sau đó giao nộp chính xác gói nylon đã nhặt được giao nộp cho cơ quan Điều tra, qua giám định là 1,3815 gam ma túy loại Ketamine, thì trong hồ sơ không có chứng cứ trực tiếp nào để xác định bị cáo H tràng trữ trái phép1,3815 gam ma túy loại Ketamine vào ngày 11/01/2021 tại khách sạn Cửu Long, bởi vì:
. Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận, bị cáo là người không sử dụng ma túy và chưa từng thấy ma túy trước kia nên việc bị cáo T khai nhận nhặt được gói nylon màu trắng trước cửa phòng 405 của khách sạn Cửu Long và nghĩ là ma túy là chưa có cơ sở. Đồng thời tại phiên tòa, bị cáo T khẳng định gói nylon nhặt trước cửa phòng số 405 là bịch nylon màu trắng viền đỏ bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tuy nhiên, căn cứ vào bản ảnh hiện trường ngày 04/02/2021, tại bút lục số 153,154 của tập ảnh thể hiện ma túy thu giữa tại nhà bị cáo T có hình dạng là bịch nylon mà trắng viền đỏ chứa các tinh thể màu trắng trong suốt nghi là ma túy. Như vậy chưa đủ cơ sở và căn cứ để xác định gói nylon T nhặt tại trước cửa phòng 405 khách sạn Cửu Long là gói nylon mà T tự nguyện giao nộp và cơ quan điều tra niêm phong đem giám định là ma túy.
. Tại Kết luận điều tra bổ sung số 582/BKL-ĐCSKT ngày 20 tháng 6 năm 2022, ngoài việc xác định lại hình dạng gói nylon theo hình ảnh trích xuất camera với gói nylon T giao nộp có cùng đặc điểm là gói nylon màu trắng viền đỏ thì cơ quan điều tra không chứng minh được gói nylon bị cáo H làm rớt và bị cáo T nhặt được trước cửa phòng 405 khách sạn Cửu Long là ma túy. Cơ quan điều tra chỉ chứng minh được gói nylon thu tại nhà của bị cáo T ngày 04/02/2021 là ma túy và có trọng lượng là 1,3815 gam Ketamine.
. Ngoài ra, thời điểm bị cáo T nhặt bịch nylon tại khách sạn Cửu Long là ngày 11/01/2021, đến ngày 04/02/2021 T mới tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra, như vậy từ thời điểm nhặt cho đến thời điểm giao nộp là 25 ngày, là một khoảng thời gian dài. Cơ quan điều tra không chứng minh được trong khoảng thời gian 25 ngày này T có tác động hay thay đổi gì đến bịch nylon hay không, Cơ quan điều tra chỉ thu thập các tài liệu cho rằng bị cáo T không phải là đối tượng nghiện ma túy, cũng không phải đối tượng về ma túy đang bị quản lý, từ đó cho rằng T không có tác động đến bịch nylon là chưa đủ căn cứ, bởi lẽ không phải chỉ người sử dụng ma túy hay đối tượng về ma túy đang bị quản lý mới tác động hay thay đổi lên bịch nylon, mà các hành vi khác về ma túy như mua bán, vận chuyển...hay một người bình thường nào cũng hoàn toàn có thể tác động và làm thay đổi đến bịch nylon.
Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo H đối với lần tàng trữ ngày 11/01/2021 thì cấu thành cơ bản bắt buộc là ma túy ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam, trong trường hợp này Cơ quan điều tra đã lấy trọng lượng 1,3815 gam của gói ma túy thu được từ hành vi tàng trữ ngày 04/02/2021 tại nhà của bị cáo T làm định lượng để truy tố bị cáo H là chưa có căn cứ vững chắc, vì sự chênh lệch giữa 01 gam theo mức cấu thành cơ bản của điều luật và 1,3815 gam là rất nhỏ, chỉ 0,3815 gam, và theo như nhận định ở phần trên, thời gian từ lúc bị cáo Thành nhặt cho đến khi giao nộp đến 25 ngày. Do đó, về phần khối lượng ma túy để quy kết bị cáo H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 11/01/2021 là chưa đủ căn cứ.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự về nguyên tắc suy đoán vô tội, Hội đồng xét xử nhận thấy chưa đủ căn cứ để xác định bị cáo H có hành vi phạm tội tàng trữ trái phép 1,3815 gam ma túy loại Ketamine vào ngày 11/01/2021 theo như truy tố của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Huỳnh Duy H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c và điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự .
. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Gây tác hại về nhiều mặt đối với xã hội như có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, đối với bị cáo H có nhân thân xấu nhưng không phấn đầu rèn luyện tu dưỡng mà còn tiếp tục phạm tội nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi các bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Cả 02 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và không có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo, và ăn năn hối cải về hành vi các bị cáo đã thực hiện, bị cáo H tuy có sự không thống nhất trong lời khai nhưng có thái độ ăn năn về hành vi đã thực hiện. Do đó, cần cho các bị cáo H hưởng một tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và bị cáo Thành được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo T, Hội đồng xét xử còn xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo Nguyễn Minh T có con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án đã tự nguyện giao nộp ma túy nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên bị cáo Thành đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới khung hình phạt. Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi lượng hình
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Tịch thu và tiêu hủy vật cấm tàng trữ, lưu hành, trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm: 01 bì thư màu trắng có ký hiệu vụ số 34 ghi ngày 06 tháng 02 năm 2021 được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh thành, Trần Ngọc Vũ, Trần Thanh Dũng và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN MỸ CHÁNH – CÔNG AN THÀNH PHỐ M– TỈNH T bên trong là ma túy sau giám định; và 02 bì thư màu trắng có ký hiệu lần lượt vụ số 1 và 2 ghi ngày 14 tháng 4 năm 2021 được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Dương Huỳnh Duy Hưng, Nguyễn Chí Hưng Phát, Trần Tấn Đạt và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN MỸ CHÁNH – CÔNG AN THÀNH PHỐ M– TỈNH T bên trong là ma túy sau giám định; Một đĩa sứ màu trắng; Một chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng trên nắp có gắn một ống thủy tinh màu trắng uống cong và đầu phình to, một ống hút nhựa màu trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh có một đầu nhọn;
Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với các tờ tiền Polime được cuộn tròn gồm: 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng do bị cáo dùng làm công cụ sử dụng ma túy.
. Lời đề nghị của người bào chữa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật và một phần nhận định trên của Hội đồng xét xử nên có xem xét đề nghị của Kiểm sát viên.
. Về án phí: Bị cáo Hưng và bị cáo Thành phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Dương Huỳnh Duy H, và Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c và điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Huỳnh Duy H 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01(một) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2021.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2.Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu và tiêu hủy vật cấm tàng trữ, lưu hành, trực tiếp liên quan đến tội phạm là ma túy sau giám định gồm: 01 bì thư màu trắng có ký hiệu vụ số 34 ghi ngày 06 tháng 02 năm 2021 được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Minh thành, Trần Ngọc Vũ, Trần Thanh Dũng và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN MỸ CHÁNH – CÔNG AN THÀNH PHỐ M – TỈNH T; và 02 bì thư màu trắng có ký hiệu lần lượt vụ số 1 và 2 ghi ngày 14 tháng 4 năm 2021 được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Dương Huỳnh Duy H, Nguyễn Chí Hưng P, Trần Tấn Đ và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ TÂN MỸ CHÁNH – CÔNG AN THÀNH PHỐ M– TỈNH T; Một đĩa sứ màu trắng; Một chai nhựa màu xanh có nắp màu trắng trên nắp có gắn một ống thủy tinh màu trắng uống cong và đầu phình to, một ống hút nhựa màu trắng; 01 ống hút nhựa màu xanh có một đầu nhọn
Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với các tờ tiền Polime được cuộn tròn gồm: 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2021 giữa Công an thành phố M với Chi cục thi hành án dân sự thành phố M.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Huỳnh Duy H và Nguyễn Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP Mỹ Tho; - VKSND TP Mỹ Tho; - CCTHADS TP Mỹ Tho; - Bị cáo, NNTGTT; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Trúc Linh |