vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc X, bé Y - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 10 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ K, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Thanh;

- Ông Lê Châu Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Oanh Đa Ra, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố K,

tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố K xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2022/TLST-HS ngày 11 tháng

10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày

14 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Ngọc X, sinh năm 1955, tại thành phố K, tỉnh An Giang; nơi

cư trú: tổ 03, khóm V2, phường Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; nghề nghiệp:

mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Phạm Thị C (chết); có

chồng là Nguyễn X Bắc (chết) và có 04 con, lớn sinh năm 1972, nhỏ sinh năm

1981; anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là người thứ năm.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào và không có

án tích;

Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

có mặt.

2. Ngô Thị Bé Y, sinh năm 1985, tại thành phố K, tỉnh An Giang; nơi cư

trú: tổ 03, khóm V2, phường Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua

bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc

tịch: Việt Nam; con ông Ngô X Chánh (chết) và bà Châu Thị Chi (chết); có chồng là Nguyễn X T, sinh năm 1981 và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là người thứ sáu.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào và không có

án tích;

Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Trần Mỹ D, sinh năm 1964; nơi cư trú: tổ 03, khóm V2, phường Ms,

thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

- Ông Nguyễn X T, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ 03, khóm V2, phường

Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; (có mặt).

- Bà Đặng Thị TY, sinh năm 1975; nơi cư trú: tổ 02, khóm V2, phường

Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

- Ông Lại X Ý, sinh năm 1992; nơi cư trú: tổ 01, khóm V2, phường Ms,

thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

- Ông Lương Mộng TU, sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ 06, khóm V2,

phường Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

- Bà Ngô Thị Dm, sinh năm 1977; nơi cư trú: tổ 06, khóm V2, phường

Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1994; nơi cư trú: tổ 06, khóm V2, phường

Ms, thành phố K, tỉnh An Giang; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 11/02/2022, nhận được tin báo của quần

chúng nhân dân, lực lượng phối hợp Công an thành phố K và Công an phường Ms, thành phố K kiểm tra nhà số 303, đường Hoàng Đạo Cật, tổ 03, khóm V2, phường Ms, thành phố K, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Ngọc X có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi bán số đề được thua bằng tiền với nhiều người, thu giữ 15 tờ phơi đề lẻ và 01 tờ phơi đề tổng, số tiền thể hiện trên các phơi đề theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương, mở thưởng ngày 11/02/2022 là 17.610.000 đồng; Tiền Việt Nam 9.135.000 đồng; 01 điện thoại di động Oppo F9, kiểm tra tin nhắn Zalo, có tin nhắn hình ảnh phơi đề do Ngô Thị Bé Y (con dâu của X) gửi, theo kết quả xổ số kiến thiết các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương cùng giờ mở thưởng ngày 11/02/2022, tổng số tiền 28.201.000 đồng và các vật dụng dùng đánh bạc.

Quá trình điều tra, còn xác định: Từ đầu tháng 01/2022, Y bắt đầu sử

dụng tài khoản Zalo “Ngô Thị Bé Y” trên điện thoại di động, ghi bán số đề cho

nhiều người được thua bằng tiền, dựa theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền

Nam và miền Bắc, gửi phơi cho X qua tài khoản Zalo “Thang” để X nộp phơi đề

cho chủ thầu đề sử dụng tài khoản Zalo tên “Anh Đào” (không rõ lai lịch). Ngày

bị bắt quả tang 11/02/2022, Y ghi bán số đề cho nhiều người, thể hiện trên hình

ảnh phơi đề, tổng số tiền 28.201.000 đồng. Trước đó, vào ngày 10/02/2022, phơi

số đề Y ghi bán cho nhiều người dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, ghi

bán 8.935.000 đồng, người chơi trúng 3.100.000 đồng, số tiền đánh bạc

12.035.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 15 tờ phơi đề lẻ và 01 tờ phơi đề tổng, ghi bán ngày

11/02/2022; 01 cây bút mực xanh; 02 giấy can màu xanh; 01 máy tính nhãn hiệu

Casio; Tiền Việt Nam 39.756.000 đồng (thu giữ của bị cáo X 9.135.000 đồng; bị

cáo Y 28.201.000 đồng; Lương Mộng TU 900.000 đồng; Ngô Thị Dm 20.000

đồng; Nguyễn Thị Q 1.500.000 đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9

(thu giữ của bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung C9 Pro màu

vàng (thu giữ của bị cáo Y).

Căn cứ các Kết luận giám định số 48 ngày 23/5/2022, số 88 ngày

15/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận:

- Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết mang tên

Nguyễn Ngọc X trên tài liệu so sánh (ký hiệu M), do cùng một người viết ra.

- Tìm thấy dữ liệu nghi vấn có liên quan, lưu trữ trong: 02 điện thoại di

động (ký hiệu: A1, A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố K gửi

giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 phụ lục gồm 37 trang A4 và 01 đĩa DVD có

tổng dung lượng dữ liệu 1,75 GB.

Ngày 24/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố K ra

Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư

trú đối với Nguyễn Ngọc X, Ngô Thị Bé Y.

Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSCĐ-HS ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố K đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc X, Ngô Thị Bé Y về tội

“Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ

sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự 2015).

Tại phiên tòa,

Các bị cáo X và Y khai nhận, khoảng đầu tháng 01/2022, X ghi bán số đề

tại nhà, Y đi bán số đề tại khu vực tổ 06, khóm Vĩnh Tây, phường Ms, đến

khoảng 15 giờ cùng ngày, Y gửi phơi đề đã bán được cho X để X gửi cho chủ

thầu đề sử dụng tài khoản Zalo “Anh Đào” (không rõ lai lịch) cùng với phơi đề

của X ghi bán được. Bằng cách thức đó, Y đã gửi các phơi đề ngày 10/02/2022

theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc số tiền 8.935.000 đồng, phơi đề ngày

11/02/2022 theo kết quả xổ số kiến thiết các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình

Dương số tiền 28.201.000 đồng cho X, sau đó X gửi các phơi đề này cho chủ

thầu đề nêu trên. Vào ngày 10/02/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc,

người chơi trúng 3.100.000 đồng; riêng ngày 11/02/2022, chưa có kết quả mở thưởng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Cách thức tính được thua, số tiền mua số A (giải tám) và số B (hai số cuối giải đặc biệt) tính là 01 lần; số tiền mua lô 02 con (02 số cuối của tất cả các giải) tính nhân với 15, trúng thưởng tỷ lệ nhân 80; lô 03 con (03 số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt) tính nhân với 15, trúng thưởng tỷ lệ nhân 600; số tiền mua lô đá 02 con (lô 02 số cuối có từ 02 con số đá với nhau trong 01 bảng giải thưởng) tính nhân với 30, trúng thưởng nhân 700; Ngày 11/02/2022, bán số đề cho Nguyễn Thị Q 1.500.000 đồng; Lương Mộng Triều 900.000 đồng; Ngô Thị Dm 20.000 đồng; Lại X Ý 375.000 đồng và nhiều người khác không rõ lai lịch. Liên tục mỗi ngày (từ đầu tháng 01/2022 đến ngày phạm tội quả tang; chỉ trừ một vài ngày bận đám tiệc, việc gia đình), X, Y ghi bán phơi đề mỗi ngày khoảng 5.000.000 đồng/người, hưởng huê hồng mỗi ngày khoảng 300.000 đồng/người, số tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc ghi bán đề thuê khoảng 12.000.000 đồng/người dùng trang trải sinh hoạt gia đình. Y tự nguyện giao nộp tiền ghi bán số đề ngày 11/02/2022 là 28.201.000 đồng. Đối với 02 điện thoại di động và số tiền 9.135.000 đồng bị thu giữ; trong đó, 02 điện thoại là của X và Y dùng vào việc ghi bán số đề; số tiền 9.135.000 đồng, có 6.938.000 đồng là tiền X thu được của người mua số đề, còn lại 2.197.000 đồng là tiền bán tạp hóa có được, X sử dụng toàn bộ số tiền này tạm chung chi số đề sau khi tính thắng thua.

Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn X T cung cấp

lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

Chủ tọa công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án Nguyễn Thị Q, Lương Mộng TU, Ngô Thị Dm, Lại X Ý, Đặng Thị TY và Trần Mỹ D vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của các bị cáo X và Y tại

phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở để xác định hành vi của các bị cáo X và Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề, phát

sinh vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Đề nghị xử lý nghiêm, kịp thời và áp dụng mức hình phạt tương xứng với

tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn

khai báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; bị cáo Y đã tự nguyện giao nộp tiền đánh bạc, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo X, Y còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt chính, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2

Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc X và Ngô Thị Bé Y mỗi bị cáo mức hình

phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo X và Y có hoàn cảnh kinh tế gia đình

khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều

47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 39.756.000 đồng; 01

điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung

C9 Pro màu vàng.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây bút mực xanh; 02 giấy can màu xanh; 01 máy

tính nhãn hiệu Casio.

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 15 tờ phơi đề lẻ và 01 tờ phơi đề tổng, ghi bán

ngày 11/02/2022.

- Biện pháp tư pháp: Quá trình ghi bán số đề, các bị cáo Nguyễn Ngọc X,

Ngô Thị Bé Y thu lợi bất chính số tiền 12.000.000 đồng/người. Ngày 11/02/202,

tổng số tiền đánh bạc trên các phơi thu giữ của bị cáo X thể hiện 17.610.000

đồng, trong đó đã thu giữ 6.938.000 đồng, còn 10.672.000; bị cáo Y ngày

10/02/2022, số tiền đánh bạc 12.035.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo X có trách

nhiệm giao nộp số tiền đánh bạc trong các ngày thể hiện trên phơi và số tiền thu

lợi, tổng số tiền 22.672.000 đồng; bị cáo Y giao nộp số tiền 24.035.000 đồng,

sung Ngân sách Nhà nước. Riêng số tiền đánh bạc của bị cáo Y trong ngày

11/02/2022 là 28.201.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện giao nộp trong quá trình điều

tra nên không buộc bị cáo phải giao nộp.

Trường hợp hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo Nguyễn Ngọc X,

Ngô Thị Bé Y trước ngày 10/02/2022, ngoài lời khai của X, Y, không chứng cứ

khác, nên Cơ quan điều tra không quy kết trách nhiệm là phù hợp.

Đối với người phụ nữ (chủ thầu số đề) có tài khoản Zalo “Anh Đào”,

không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Đối với,

Nguyễn Thị Q, Lương Mộng TU, Ngô Thị Dm, Lại X Ý có hành vi đánh bạc trái

phép, nhưng dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển xử

phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Các bị cáo X và Y không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Kiểm

sát viên. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi đã thực hiện, xin

Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Nguyễn Thị Q, Lương Mộng TU, Ngô Thị Dm, Lại X Ý, Đặng Thị TY và Trần Mỹ D vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra, những người vắng mặt đã có lời khai rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội

Các bị cáo X và Y khai nhận, khoảng đầu tháng 01/2022, X ghi bán số đề

tại nhà, Y đi bán số đề, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Y gửi phơi đề đã bán được cho X để X gửi cho chủ thầu đề sử dụng tài khoản Zalo “Anh Đào” (không rõ lai lịch) cùng với phơi đề của X ghi bán được. Bằng cách thức đó, Y đã gửi các phơi đề ngày 10/02/2022 theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc số tiền 8.935.000 đồng, phơi đề ngày 11/02/2022 theo kết quả xổ số kiến thiết các đài Vĩnh Long, Trà Vinh, Bình Dương số tiền 28.201.000 đồng cho X, sau đó X gửi các phơi đề này cho chủ thầu đề nêu trên. Vào ngày 10/02/2022, theo kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, người chơi trúng 3.100.000 đồng; riêng ngày 11/02/2022, chưa có kết quả mở thưởng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Cách thức tính được thua, số tiền mua số A (giải tám) và số B (hai số cuối giải đặc biệt) tính là 01 lần; số tiền mua lô 02 con (02 số cuối của tất cả các giải) tính nhân với 15, trúng thưởng tỷ lệ nhân 80; lô 03 con (03 số cuối từ giải bảy đến giải đặc biệt) tính nhân với 15, trúng thưởng tỷ lệ nhân 600; số tiền mua lô đá 02 con (lô 02 số cuối có từ 02 con số đá với nhau trong 01 bảng giải thưởng) tính nhân với 30, trúng thưởng nhân 700.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các

bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/02/2022 được cơ quan điều tra thu thập và thẩm tra tại phiên tòa; phù hợp về khoảng thời gian, địa điểm cũng như cách thức mua bán, số tiền mà các bị cáo đã bán số đề.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc

trái phép dưới hình thức ghi bán số đề được thua bằng tiền. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội đánh bạc. Các bị cáo X và Y đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh

bạc ghi bán số đề được thua bằng tiền là hình thức đánh bạc trái phép, vi phạm

pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi, với mục đích có tiền để sử

dụng, tiêu xài đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì

vậy, hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo

quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Đánh bạc với hình thức ghi bán số đề được thua bằng tiền là một trong

những tệ nạn xã hội, đang có chiều hướng gia tăng, là nguyên nhân dẫn đến mâu

thuẫn trong gia đình, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là điều kiện phát

sinh các tội phạm khác nên Nhà nước kiên quyết đấu tranh đối với loại tội phạm

này.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý

trực tiếp, không những xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn trực tiếp xâm

phạm đến nếp sống văn minh, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cho nên, cần

có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo

tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đồng phạm:

Các bị cáo tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề, phát

sinh vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ trong quá trình

thực hiện hành vi phạm tội.

Trước hết đối với bị cáo Nguyễn Ngọc X, trong ngày bắt quả tang, bị cáo

trực tiếp ghi bán số đề, số tiền đánh bạc 19.807.000 đồng và nhận phơi đề của bị

cáo Y gửi số tiền đánh bạc 28.201.000 đồng để tổng hợp, gửi phơi đề cho chủ

thầu đề, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc

48.008.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo X còn nhận của bị cáo Y trong ngày

10/02/2022, phơi đề số tiền 12.035.000 đồng, gửi cho chủ thầu đề để hưởng huê

hồng.

Đối với bị cáo Y tham gia đánh bạc trực tiếp ghi bán số đề trong ngày

11/02/2022 với số tiền đánh bạc 28.201.000 đồng; ngày 10/02/2022, số tiền

đánh bạc 12.035.000 đồng. Sau khi ghi bán các con số đề cho người mua, bị cáo

gửi cho bị cáo X để X giúp sức gửi tiếp cho chủ thầu đề, hưởng huê hồng. Vì

vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền trực tiếp ghi bán.

Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo X, Y có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02

lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vai trò của bị

cáo X cao hơn bị cáo Y; X trực tiếp bán và ngoài ra nhận phơi đề của Y nên

mức phạt đối với bị cáo X cao hơn bị cáo Y.

Về tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo X, Y đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải, thuộc thành phần nhân dân lao động, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; bị

cáo Y đã tự nguyện giao nộp tiền đánh bạc và đang mắc bệnh u gan, bị cáo X là

người cao tuổi (67 tuổi) đồng thời còn mắc bệnh hiểm nghèo ung thư cổ tử cung

(cả hai bị cáo đều có hồ sơ bệnh án); đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, tình

tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo X và Y có hoàn cảnh kinh tế gia

đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp

- Đối với 15 tờ phơi đề lẻ và 01 tờ phơi đề tổng, ghi bán ngày 11/02/2022

có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội nên lưu hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 cây bút mực xanh; 02 giấy can màu xanh; 01 máy tính nhãn

hiệu Casio không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với Tiền Việt Nam 39.756.000 đồng (thu giữ của bị cáo X 9.135.000

đồng; bị cáo Y 28.201.000 đồng; Lương Mộng TU 900.000 đồng; Ngô Thị Dm 20.000 đồng; Nguyễn Thị Q 1.500.000 đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 (thu giữ của bị cáo X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung C9 Pro màu vàng (thu giữ của bị cáo Y) được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Theo lời khai quá trình ghi bán số đề, các bị cáo X và Y thu lợi bất chính

số tiền 12.000.000 đồng/người.

Đối với bị cáo X, vào ngày 11/02/2022, tổng số tiền đánh bạc trên các phơi

thu giữ của bị cáo X thể hiện 17.610.000 đồng, trong đó đã thu giữ 6.938.000 đồng, còn 10.672.000. Vì vậy, buộc bị cáo X có trách nhiệm giao nộp số tiền đánh bạc trong các ngày thể hiện trên phơi và số tiền thu lợi bất chính, tổng số tiền 22.672.000 đồng.

Đối với bị cáo Y, ngày 10/02/2022, bị cáo Y ghi bán đề cho nhiều người

với số tiền 12.035.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo Y giao nộp số tiền đánh bạc trong ngày 10/02/2022 và số tiền thu lợi bất chính là 24.035.000 đồng, sung Ngân sách Nhà nước. Ngày 11/02/2022, bị cáo Y đã ghi bán số đề là 28.201.000 đồng. Riêng số tiền đánh bạc của bị cáo Y trong ngày 11/02/2022 là 28.201.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện giao nộp trong quá trình điều tra nên không buộc bị cáo phải giao nộp.

Các vấn đề khác:

- Đối với hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo Nguyễn Ngọc X, Ngô

Thị Bé Y trước ngày 10/02/2022, ngoài lời khai của X, Y, không chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra không quy kết trách nhiệm là phù hợp.

- Đối với người phụ nữ (chủ thầu số đề) có tài khoản Zalo “Anh Đào”,

không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

- Đối với, Nguyễn Thị Q, Lương Mộng TU, Ngô Thị Dm, Lại X Ý có

hành vi đánh bạc trái phép, nhưng dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo X, Y, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có

quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi,

bổ sung năm 2017;

Tuyên bố:

1. Bị cáo Nguyễn Ngọc X phạm tội: “Đánh bạc”;

Xử phạt: Nguyễn Ngọc X 07 (Bảy) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị

cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Bị cáo Ngô Thị Bé Y phạm tội: “Đánh bạc”;

Xử phạt: Ngô Thị Bé Y 07 (Bảy) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị

cáo chấp hành hình phạt tù.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ

luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015;

- Lưu hồ sơ vụ án 15 tờ phơi đề lẻ và 01 tờ phơi đề tổng, ghi bán ngày

11/02/2022;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây bút mực xanh; 02 giấy can màu xanh; 01 máy

tính nhãn hiệu Casio.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam 39.756.000 đồng;

01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, có số imei 1: 860163044410434, số

imei 2: 860163044410426; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung C9 Pro

màu vàng có số imei 1: 357160080757470, số imei 2: 357161080757478.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều

tra - Công an thành phố K với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố K).

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc X có trách nhiệm giao nộp số tiền 22.672.000

đồng, sung vào ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo Ngô Thị Bé Y có trách nhiệm giao nộp số tiền 24.035.000

đồng, sung Ngân sách Nhà nước.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc X phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, bị

cáo Ngô Thị Bé Y phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Nguyễn Ngọc X, Ngô

Thị Bé Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn X T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ