vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 24/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2022. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bằng giấy được Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày 24/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Cần Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thưởng

Ông Nguyễn Ngọc Quý

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết là thư ký Tòa án nhân dân quận T

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Htham gia phiên toà: Ông Lê Khắc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2022/TLST - HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐ- ST ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên : Nguyễn Thị T , sinh năm : 1977. Giới tính : Nữ. HKTT : Tổ 1 phường Phúc Đồng, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Trình độ học vấn : (Không đi học). Nghề nghiệp: Không. Quốc tịch : Việt Nam. Dân tộc : Kinh. Tôn giáo : Không. Con ông : Nguyễn Văn Đ (đã chết). Con bà : Đỗ Thị L, sinh năm 1955. Gia đình có bốn chị em, bị can là con thứ hai. Danh bản chỉ bản số 026 lập ngày 11/01/2022 tại công an quận T, Thành phố H.

Nhân thân:

Tiền án :

Bản án số 225/HSST ngày 14.02.1998 của Tòa án nhân dân TP. H phạt 5 năm tù về tội mua bán phụ nữ - Đã xóa án tích.

Bản án số 39/HSST ngày 21/02/2003 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy - Đã được đương nhiên xóa án tích.

Bản án số 169/HSST ngày 04/02/2009 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt 30 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Đã xóa án tích.

Bản án số 293/HSST ngày 29/4/2009 của Tòa án nhân dân quận H xử phạt 07 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Đã xóa án tích.

Bản án số 211/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân quận L xử phạt 26 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 07 tháng 07 năm 2020 – Chưa được xóa án tích.

Tiền sự : 02 tiền sự đã xóa.

Ngày 01.01.1993 Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Ngày 12.07.2001 Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi tang trữ trái phép chất ma túy.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị T là đối tượng nghiện ma túy T đi bán ma túy để có tiền sử dụng ma túy. Khoảng 15h00’ ngày 02/01/2022, T nhận được điện thoại từ số 0355540996 của Hùng (bạn T mới quen), Hùng nhờ T mua hộ 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy Hêrôin và 700.000đ (bảy trăm nghìn đồng) tiền ma túy đá và bảo T mang ma túy lên ngõ 236 Âu cơ để cùng sử dụng với Hùng. Hùng sẽ cho T thêm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền công đi lại.

T nhận lời sau đó điều khiển xe máy ra khu vực đường Hồng Hà, phương Phúc Tân, Hoàn Kiếm để tìm mua ma túy Heroine. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi T hỏi mua 1.000.000 (một triệu đồng) ma túy Hêrôin và 700.000 (bảy trăm nghìn đồng) ma túy “đá”, Người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho T 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa ma túy Heroine và ma túy đá. Sau khi mua được ma túy T cầm số ma túy ở tay trái và điều khiển xe máy đến điểm hẹn với Hùng trước đó, khi đến ngõ 236 Âu Cơ T đi vào khoảng 40m để gặp Hùng thì bị cơ quan công an dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra T đã tự tay giao nộp số ma túy trên cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy Heroine và ma túy đá của T đang mang lên đưa cho bạn tên Hùng. Tổ công tác đã lập biên bản T giữ, niêm phong tang vật đưa T cùng phương tiện về trụ sở để làm rõ.

Cơ quan công an T giữ của Nguyễn Thị T :

- 01 (một) gói nilon màu đen bên trong chứa : 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng 4 x 4cm bên trong túi nilon chưa tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong đựng 08 (tám) gói giấy bạc bên trong các gói giấy bạc có chất bột màu trắng.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Vison, biển kiểm soát 29.H1-769.49, Số máy : JF66E0622655, Số khung : 5817GY622586.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng.

- 01 (một) Túi xách màu đen.

- Số tiền 6.000.000VNĐ (Sáu triệu đồng )

Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định các chất bột, tinh thể mầu trắng T giữ của Nguyền Thị T , mà T khai là ma túy, kết quả :

Bản kết luận giám định số: 288/KLGĐ-PC09 CATP Hngày 09/01/2022 kết luận :

+ Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, Khối lượng : 1,222 gam.

+ Chất bột màu trắng bên trong 08 gói giấy bạc (để bên trong 01 túi nilông) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng : 0,683 gam.

Quá trình điều tra xác định T không có chỗ ở, sống L g thang nên Cơ quan điều tra không thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với T . Kiểm tra điện thoại của T có số điện thoại liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra T khai mục đích T mang số ma túy trên đến khu vực Ngõ 236 Âu cơ, phường Quảng An, quận T là để đưa cho Hùng và lấy lại số tiền 1.700.000đ tiền T đã ứng ra mua ma túy trước đó, T sẽ nhận được 200.000đ tiền công Hùng trả cho T .

Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho T tại trước địa chỉ số 205 Hồng Hà, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, do T không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể người đàn ông trên ở đâu, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng tên Hùng đã gọi điện hỏi mua ma túy của T , do T chỉ liên lạc mua ma túy qua số điện thoại 0355540996, Cơ quan điều tra đã tiến hành ra lệnh T giữ thư tín, điện tín các số điện thoại có liên quan trong vụ án. Kết quả không xác định và làm rõ được đối tượng Hùng, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với số tài sản T giữ của T gồm : 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đeo biển kiểm soát 29.H1- 76949, có Số máy : JF66E0622655, Số khung : 5817GY622586; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng; Số tiền mặt 6.000.000VNĐ (Sáu triệu đồng ); 01 (một) túi xách màu đen. T khai là của T do lao động tự do mà có được.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Vision, màu xanh đeo BKS: 29H1-76949, Số máy : JF66E0622655, Số khung : 5817GY622586. T khai nhận vào khoảng tháng 09/2021 T mua lại chiếc xe máy trên của người đàn ông tại khu vực Phố Tân Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội, với giá là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng). Sau khi trả tiền mua xe xong T cầm toàn bộ giấy tờ có liên quan đến chiếc xe máy trên cùng chiếc xe trên về sử dụng. Trong quá trình sử dụng chiếc xe máy trên T đã làm rơi mất toàn bộ giấy tờ có liên quan đến chiếc xe máy trên. Qua tra cứu xác định chủ sở hữu chiếc xe máy trên là chị Nguyễn Thị L (Sinh năm 1972 - Địa chỉ tổ 32 Thịnh Liệt, Hoàng Mai Hà Nội) là chủ đăng ký chiếc xe máy trên. Tại cơ quan điều tra chị L khai nhận vào khoảng tháng 11/2016 chị L có mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen có SK : 5817GY622586 và SM : JF66E0622655. tại một cửa hàng mua bán xe máy ở khu vực Phố Huế với giá là 32.000.000đ (ba mươi hai triệu đồng). Sau đó chị L mang chiếc xe máy trên đi đăng ký và đeo BKS: 29H1 - 769.49. Chị L sử dụng chiếc xe máy trên để đi lại đến khoảng tháng 09/2021 do chị L không còn nhu cầu sử dụng chiếc xe máy trên nên đã bán lại cho chồng (đã ly hôn) là anh Trịnh Văn T (Sinh năm 1973 - HKTT 362 C7 Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội) với giá là 22.000.000đ (Hai mươi hai triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra anh T khai sau khi mua chiếc xe máy trên của chị L anh T sử dụng đến khoảng tháng 8/2021 thì bán lại chiếc xe máy trên cho một người đàn ông tên Thanh ở khu vực Vân Hồ (anh T không biết địa chỉ của Thanh) với giá là 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng). Anh T có viết tay giấy tờ mua bán và bàn giao chiếc xe máy trên cùng giấy đăng ký xe cho Thanh. Anh T và chị L đều không có yêu cầu gì về chiếc xe máy nêu trên vì đã bán.

Tại bản kết luận giám định số 2564/KL-KTHS ngày 21/04/2022 xác định : Xe máy nhãn hiệu HONDA VISION đeo biển kiểm soát 29.H1-769.49 gửi giám định, hiện tại có số khung : RLHJE5817GY622586 và số máy : JF66E-0622655 là số đóng lại. Không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe. Cơ quan điều tra đã tra cứu tại phòng cảnh sát hình sự CATP Hà Nội, chiếc xe trên không có trong dữ liệu xe vật chứng có thông báo T giữ.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Bản cáo trạng số 62/CT - VKS ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận T quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự.

Tịch T tiêu hủy 01 bao niêm phong bằng giấy được dán kín tại các mép có

chữ ký của bị cáo Nguyễn Thị T , chữ ký của giám định viên và đóng dấu của cơ quan CSĐT. Bên trong là số ma túy Heroin và Methamphetamine T giữ của T .

Tịch T sung công: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Vison, biển kiểm soát 29.H1-769.49, Số máy : JF66E0622655, Số khung : 5817GY622586.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng.

- 01 (một) Túi xách màu đen.

- Số tiền 6.000.000VNĐ (Sáu triệu đồng )

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận T; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khách quan khác, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h00’ ngày 02/01/2022, tại ngõ 236 Âu, T ộc địa bàn phường Q, quận T, thành phố H, Nguyễn Thị T có hành vi mua, bán trái phép 1,222 gam Methamphetamine và 0,683 gam Heroine cho đối tượng tên Hùng, nhưng chưa bán được thì đã bị Công an phường Q phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điều 251 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ và là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo không tìm một công việc có T nhập hợp pháp, chỉ vì lợi nhuận mà đã đi bán ma túy với mục đích hưởng lợi bất chính. Bản án số 211/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hxử phạt 26 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 07 tháng 7 năm 2020( Chưa được xóa án tích), vì vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội; Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bằng giấy được

dán kín tại các mép có chữ ký của bị can Nguyễn Thị T , chữ ký của giám định viên và đóng dấu của cơ quan CSĐT. Bên trong là số ma túy Heroin và Methamphetamine T giữ của T .

Tịch T sung công: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Vison, biển kiểm soát 29.H1-769.49, Số máy : JF66E0622655, Số khung : 5817GY622586.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng.

- 01 (một) Túi xách màu đen.

- Trả cho bị cáo số tiền 6.000.000VNĐ (Sáu triệu đồng )

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng khoản 1 điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2022.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Áp dụng các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bằng giấy được

dán kín tại các mép có chữ ký của bị caó Nguyễn Thị T , chữ ký của giám định viên và đóng dấu của cơ quan CSĐT. Bên trong là số ma túy Heroin và Methamphetamine thu giữ của T .

Tịch thu sung công: 01 (một) xe máy nhãn hiệu HONDA Vison, biển kiểm soát 29H1-769.49, Số máy : JF66E-0622655, Số khung : 5817GY622586.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã qua sử dụng không kiểm tra Imei

- 01 (một) Túi xách màu đen đã qua sử dụng.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 6.000.000VNĐ (Sáu triệu đồng )

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2022, lệnh thanh toán ngày 25/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận T với Chi cục Thi hành án dân sự quận T và kho bạc nhà nước quận T .

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ