- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H về tội “Đánh…"
- Tòa quyết gì? 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thị T; căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H; Tuyên bố các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H phạm tộ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HS-ST Ngày: 28 - 09 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Phấn;
Ông Vũ Xuân T.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên
toà: Ông Ngô Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường,
tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Phan Thị T, sinh ngày 17/6/1991, tại huyện TN, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 9, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1967; có chồng là Nguyễn Văn K, sinh năm 1986 và 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
2. Nguyễn Việt D, sinh ngày 18/7/1984, tại xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; hộ khẩu thường trú: Xóm 15, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nơi ở: Tổ 3, thị trấn XT, huyện XT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1960 và bà Phùng Thị D, sinh năm 1964; có vợ là Trần Thị Lan H, sinh năm 1979 và 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
3. Lê Văn H, sinh ngày 21/3/1986, tại xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 9, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Vũ Thị H, sinh năm 1958; có vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1991 và 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “ có mặt”.
4. Nguyễn Văn H, sinh ngày 28/02/1985, tại xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 12, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; không xác định được người cha; con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1949 (đã chết); có vợ là Đỗ Thị N, sinh năm 1987 và 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “ có mặt”.
- Người làm chứng: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1969 “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 18/01/2022, Tổ công tác Công an huyện Xuân
Trường tiến hành kiểm tra đại lý số 891 của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Nam Định thuộc địa bàn xóm 9, xã XH, huyện Xuân Trường. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phát hiện Phan Thị T lợi dụng việc nhà nước mở tH kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc vào hồi 18 giờ 30 phút hàng ngày để bán số lô, số đề cho người chơi nhằm thu lợi bất chính cụ thể như sau:
Về cách thức chơi: Đối với đề và ba càng người chơi phải bỏ ra một khoản tiền để mua số đề gồm hai số bất kỳ, ba càng là ba số bất kỳ. Sau đó đối chiếu với hai hoặc ba số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó. Nếu số người mua đánh trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi trúng đề; trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi trúng ba càng và nhận tiền theo tỉ lệ 1 ăn 70 đối với đề, tỉ lệ 1 ăn 400 đối với ba càng. Nếu không trúng thì bị mất số tiền chơi, người bán được H số tiền này. Đối với hình thức chơi lô, người chơi bỏ ra một khoản tiền mua một hay nhiều số lô của người bán, mỗi số lô gồm hai chữ số bất kỳ kèm theo số điểm muốn đánh. Mỗi một điểm lô người chơi phải trả là 21.800 đồng. Sau đó đối chiếu với hai số cuối cùng của 27 giải kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó. Nếu số đánh trùng khớp với hai số cuối cùng của 1 trong 27 giải thì người chơi trúng lô và nhận tiền theo tỷ lệ 1 điểm lô ăn 80.000 đồng. Nếu số lô mà người đánh xuất hiện nhiều lần tại nhiều giải thì người chơi sẽ được nhận số tiền thắng theo cấp số nhân tương ứng với số lần xuất hiện. Nếu không trúng thì người chơi bị mất tiền, người bán được H số tiền này. Đối với hình thức đánh lô xiên có các loại xiên 2 gồm hai cặp số, xiên 3 gồm ba cặp số, xiên 4 gồm bốn cặp số, người chơi phải bỏ ra một khoản tiền mua một cặp hay nhiều cặp số của người bán. Sau đó đối chiếu với hai số cuối cùng của 27 giải kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm đó. Nếu các cặp số đã mua trùng khớp với hai số cuối cùng của 1 trong 27 giải thì người chơi trúng lô xiên và nhận tiền theo tỷ lệ xiên 2 = 11 lần số tiền bỏ ra mua, xiên 3 = 45 lần số tiền bỏ ra mua và xiên 4 = 110 lần số tiền bỏ ra mua. Đối với số tiền đánh đề, ba càng và lô xiên T thu 75% số tiền người chơi bỏ ra.
Trong ngày 18/01/2022, Phan Thị T đã bán số lô, số đề cho bốn người chơi cụ thể:
* Khoảng 12 giờ 19 phút; 14 giờ 18 phút và 17 giờ 37 phút ngày 18/01/2022, Nguyễn Việt D đã 03 lần sử dụng điện thoại Samsung J7, lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx nhắn tin SMS đến số thuê bao xxxxxxxxxx lắp trên điện thoại iphone 7 Plus của Phan Thị T mua các số lô, số đề cụ thể:
Tin nhắn thứ nhất: Lô gồm các số 18, 33, 34, 53, 39, 93, 55, 56, 74, 79, 69, 97, 96, 09, 10, 16, 88, 90, 43, 07, 46, 47, 02 mỗi số 80 điểm = 40.112.000 đồng.
Tin nhắn thứ hai: Lô gồm các số: 65, 66, 58, 59, 08, 40, 49, 94, 95 mỗi số 15 điểm = 2.943.000 đồng.
Tin nhắn thứ ba: Đề: 39 = 500.000 đồng; ba càng: 839 = 500.000 đồng; lô gồm các số: 28, 82, 18, 08, 88, 39, 93, 38, 60 mỗi số 25 điểm = 4.905.000 đồng.
Tổng cộng số tiền Nguyễn Việt D sử dụng đánh bạc với Phan Thị T là 48.710.000 đồng.
* Khoảng 17 giờ 38 phút, ngày 18/01/2022, Lê Văn H sử dụng tài khoản zalo “Le Gia Khanh” đăng ký bằng số thuê bao xxxxxxxxxx lắp trên điện thoại OPPO A54 nhắn tin đến tài khoản zalo “Truc Khang” của T đăng ký bằng số thuê bao xxxxxxxxxx mua các số lô, số đề cụ thể:
Tin nhắn thứ nhất:
+ Lô xiên gồm các cặp (00, 59); (00, 95); (85, 00); (58, 00); (85, 00, 19); (85, 00, 59); (85, 00, 95) mỗi cặp 500.000 đồng;
+ Lô gồm các số: 00, 85, 19, 59, 95 mỗi số 100 điểm = 10.900.000 đồng;
+ Đề gồm các số: 92, 29 mỗi số 600.000 đồng; 92 = 350.000 đồng.
Tin nhắn thứ hai:
+ Lô gồm các số: 93, 41, 57, 00, 89 mỗi số 50 điểm= 5.450.000 đồng.
+ Đề gồm các số: 70, 75 mỗi số 580.000 đồng; 20, 25, 80, 85 mỗi số
230.000 đồng.
+ Ba càng gồm các số: 170, 175, 370, 375 mỗi số 230.000 đồng.
Tổng cộng số tiền Lê Văn H sử dụng đánh bạc với Phan Thị T là 22.387.500 đồng.
* Nguyễn Văn H là đại lý bán vé xổ số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Nam Định. Trong ngày 18/01/2022, H bán số lô đề cho người chơi không nhớ tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là 8.255.000 đồng. Sau đó, H sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn Hương” đăng ký bằng số thuê bao xxxxxxxxxx lắp trên điện thoại Iphone 7 nhắn tin, chụp ảnh các trang giấy ghi chép số lô, số đề của khách chơi gửi tới zalo “Truc Khang” của T cụ thể:
Tin nhắn thứ nhất: Là ảnh chụp 02 trang giấy ghi các số lô, số đề:
+ Đề gồm các số: 23, 25, 18, 76, 07, 37, 73 mỗi số 5.000 đồng; 47, 74, 09,
90 mỗi số 15.000 đồng; 01, 10, 57, 75, 41 mỗi số 20.000 đồng; 74, 75 mỗi số 100.000 đồng; 89, 98 mỗi số 50.000 đồng; 08, 80 mỗi số 90.000 đồng; 82, 80, 85, 35, 79, 97, 05 mỗi số 40.000 đồng; 18, 81, 45, 54 65, 18, 82, 72 mỗi số 30.000 đồng; 83 = 100.000 đồng; 48 = 80.000 đồng; 84 = 300.000 đồng; 83 = 50.000 đồng; 70, 76 mỗi số 100.000 đồng; 23, 32, 39, 93, 83, 72, 74, 75 mỗi số 520.000 đồng; 73= 50.000 đồng; 50 = 100.000 đồng; đầu 8 = 250.000 đồng (mỗi số 25.000 đồng); đít 8 = 150.000 đồng (mỗi số 15.000 đồng); đầu 7 = 50.000 đồng (mỗi số 5000 đồng).
+ Lô Xiên: Xiên 4: 93 - 95 - 79 - 97 = 100.000 đồng; xiên 3: 00 - 31 - 86; 78 - 86 - 76; 38 - 89 - 41; 86 - 87 - 88; 76 - 00 - 41 mỗi bộ số 20.000 đồng.
Tin nhắn Zalo thứ hai: Lô đít 4 = 20 điểm (tức mỗi số 02 điểm)
Tin nhắn Zalo thứ ba: Lô 04, 40, 89, 98 mỗi con 05 điểm; đề đầu 250.000 đồng (mỗi số 25.000 đồng).
Tin nhắn Zalo thứ tư: Đề: 04, 40 mỗi con 50.000 đồng.
Tổng cộng số tiền Nguyễn Văn H chuyển bảng cho Phan Thị T là 6.388.000 đồng. Số tiền H được H chênh lệch là 1.867.000 đồng.
* Vũ Thị Thê trú tại xóm 19, xã Xuân Thượng là đại lý bán vé xổ số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Nam Định. Ngày 18/01/2022, Thê bán số lô, số đề cho người chơi không nhớ tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là 3.158.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, Thê sử dụng tài khoản zalo “Thê Thắng” đăng ký bằng số thuê bao xxxxxxxxxx lắp trên điện thoại OPPO F5 Youth nhắn tin, chụp ảnh các trang giấy ghi chép số lô, số đề của khách chơi gửi tới zalo “Truc Khang” của T. Số tiền Thê chuyển bảng cho T là 2.368.000 đồng để H tiền chênh lệch là 790.000 đồng.
Sau mỗi tin nhắn D, H, H, Thê nhắn tin đến T trả lời “Ok”, tuy nhiên giữa các bên chưa thanh toán tiền mua bán số lô, số đề kể trên.
Quá trình kiểm tra Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của Phan Thị T số tiền 42.225.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ màu xám; 01 điện thoại Samsung S20, vỏ màu xanh, có gắn 02 sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus vỏ màu vàng, có gắn 01 sim số thuê bao xxxxxxxxxx; 01 laptop nhãn hiệu Dell, vỏ màu xanh; 01 quyển sổ giáo án hiệu Hải Tiến; 01 quyển sổ Notebook hiệu Mỹ Hào; 01 quyển sổ hiệu Hồng Hà; 01 giấy vay tiền mang tên Đoàn Thị Thắm đề ngày 27/01/2021; 01 giấy vay tiền mang tên Đặng Thị Huyền đề ngày 12/12/2021; 01 hợp đồng đại lý hộ gia đình bán vé xổ số mang tên Nguyễn Văn Khuyến. Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu trắng bạc, có gắn sim thuê bao xxxxxxxxxx. Thu giữ của Lê Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh có gắn sim số thuê bao xxxxxxxxxx. Thu giữ của Nguyễn Việt D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 2016, vỏ màu đồng, có gắn 02 thẻ sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H,
Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép của bản thân như đã nêu.
Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 26/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phan Thị T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thị T. Xử phạt bị cáo Phan Thị T 03 năm tù cho H án treo, thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra.
Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của bản thân là vi phạm pháp luật, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có khiếu nại gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về việc kết tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ được. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/01/2022, tại nơi ở của mình tại xóm 9, xã XH, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Phan Thị T thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Việt D, Lê Văn H và nhận bảng lô, bảng đề của Nguyễn Văn H, Vũ Thị Thê với tổng số tiền 79.853.000 đồng trong đó Nguyễn Việt D đánh bạc với T số tiền 48.710.000 đồng; Lê Văn H đánh bạc với T số tiền 22.387.000 đồng. Nguyễn Văn H chuyển bảng cho T số tiền 6.388.000 đồng; Vũ Thị Thê chuyển bảng cho T số tiền 2.368.000 đồng thì bị Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Phan Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Riêng Vũ Thị Thê chuyển bảng số đề trái phép cho T số tiền 2.368.000 đồng nên không cấu thành tội “Đánh bạc”. Công an huyện Xuân Trường quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thê là phù hợp.
Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn minh của xã hội. Tội phạm đánh bạc là một tệ nạn, là nguồn gốc làm phát sinh các loại tội phạm khác như các tội chiếm đoạt tài sản, ảnh H xấu đến từng cá nhân, đến trật tự an toàn xã hội, hạnh phúc nhiều gia đình đã tan vỡ vì cờ bạc; vì vậy, cần thiết phải đấu tranh mạnh mẽ để loại trừ bằng pháp luật hình sự.
Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo T là chủ lô, đề, là người trực tiếp bán số lô, số đề, nhận bảng lô đề từ các bị cáo khác nên giữ vai trò đầu trong vụ án; tiếp đến dựa vào số tiền các bị cáo đánh bạc thì sắp xếp vị trí của các bị cáo khác lần lượt sẽ là Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn. Các bị cáo phạm tội lần đầu trong đó các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Phan Thị T có bố là người có công với cách mạng, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và có con bị bệnh, tại thời điểm xét xử bị cáo đang mang thai. Do vậy bị cáo Phan Thị T được H tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H được H tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho H án treo đối với bị cáo Phan Thị T và xử phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H là phù hợp đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Số vật chứng thu giữ dùng để đánh bạc: Thu giữ của Phan Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus vỏ màu vàng, có gắn 01 sim số thuê bao xxxxxxxxxx. Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu trắng bạc, có gắn sim thuê bao xxxxxxxxxx. Thu giữ của Lê Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh có gắn sim số thuê bao xxxxxxxxxx. Thu giữ của Nguyễn Việt D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 2016, vỏ màu đồng, có gắn 02 thẻ sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Về số tiền các bị cáo đánh bạc trong đó: Nguyễn Việt D 48.710.000 đồng, Lê Văn H 22.387.000 đồng, Nguyễn Văn H 8.225.000 đồng xét cần truy thu số tiền của các bị cáo để sung ngân sách nhà nước.
- 01 quyển sổ giáo án hiệu Hải Tiến; 01 quyển sổ Notebook hiệu Mỹ Hào; 01 quyển sổ hiệu Hồng Hà, 01 giấy vay tiền mang tên Đoàn Thị Thắm đề ngày 27/01/2021; 01 giấy vay tiền mang tên Đặng Thị Huyền đề ngày 12/12/2021; hợp đồng đại lý hộ gia đình bán vé xổ số mang tên Nguyễn Văn Khuyến đã thu giữ của bị cáo Phan Thị T (các quyển sổ T dùng để nháp khi đánh bạc) không tịch thu cho tiêu hủy mà tiếp tục được lưu trong hồ sơ vụ án.
- Số tiền 42.225.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ màu xám; 01
điện thoại Samsung S20, vỏ màu xanh, có gắn 02 sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen; 01 laptop nhãn hiệu Dell, vỏ màu xanh thu giữ của bị cáo Phan Thị T đều không liên quan đến tội phạm xét trả lại cho bị cáo.
Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Thị T; căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H; Tuyên bố các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”;
+ Xử phạt bị cáo Phan Thị T 03 (ba) năm tù cho H án treo, thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án (bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022).
Giao bị cáo Phan Thị T cho Ủy ban nhân dân xã XH, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Phan Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được H án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được H án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho H án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 08 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 02 năm 11 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 năm cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 08 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 11 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ,
được khấu trừ 08 ngày đã bị tạm giữ từ ngày 20/01/2022 đến ngày 27/01/2022 bằng 24 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn
Văn H.
Giao các bị cáo Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã XH, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người bị kết án trong việc giám sát, giáo dục người đó.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Truy thu của Nguyễn Việt D 48.710.000đ (bốn mươi tám triệu, bảy trăm mười nghìn đồng), Lê Văn H 22.387.000đ (hai mươi hai triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn đồng), Nguyễn Văn H 8.225.000đ (tám triệu, hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus vỏ màu vàng, có gắn 01 sim số thuê bao xxxxxxxxxx của bị cáo Phan Thị T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu trắng bạc, có gắn sim thuê bao xxxxxxxxxx của bị cáo Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh có gắn sim số thuê bao xxxxxxxxxx của Lê Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 2016, vỏ màu đồng, có gắn 02 thẻ sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx của Nguyễn Việt D;
- Trả lại cho bị cáo Phan Thị T: Số tiền 42.225.000đ (bốn mươi hai triệu, hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng; 01 điện thoại di động Iphone X, vỏ màu xám; 01 điện thoại Samsung S20, vỏ màu xanh, có gắn 02 sim số thuê bao xxxxxxxxxx và xxxxxxxxxx; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung vỏ màu đen; 01 laptop nhãn hiệu Dell, vỏ màu xanh.
(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng, tài
sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường số 91/CCTHA ngày 27/9/2022 và Biên lai thu tiền số 0001807 ngày 27/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; buộc các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Phan Thị T, Nguyễn Việt D, Lê Văn H, Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Xuân Trường; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Công an huyện Xuân Trường; - UBND xã XH; - UBND thị trấn Xuân Trường; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |