vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 15/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung Quân phạm tội TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày 15/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Phạm Hồng Thiêm.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy,tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 67/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Trung Q, sinh ngày 07/11/19xx, tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: , huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Công D, sinh năm 1958 và bà Tô Thị T, sinh năm 1964, đều trú tại thông Kinh Hào, xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Ông Bùi Công D là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4. Có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1994, trú tại, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.Nhân thân: Tháng 02/2013 tham gia nghĩa vụ Q sự tại cục HQ-BTLHQ đến tháng 01/2015 xuất ngũ về địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/5/2022 đến ngày 08/5/2022 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thái Thụy. Bị cáo được dẫn giải có mặt tại phiên tòa).

2.2. Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1955;

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 7, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1964;

Đều cư trú tại: Tổ dân phố Mai Diêm, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

(Ông H, ông D đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/5/2022, Bùi Trung Q đi xe bus từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện Thái Thụy, mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân thì gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5511 gam, với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q cầm ma tuý trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Thái Thụy phát hiện. Tại đây, sau khi được nghe tổ công tác giải thích quy định của pháp luật và trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, ông Nguyễn Sỹ Hùng và ông Đoàn Văn Dũng, Q đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt, có mép viền cài màu xanh bên trong chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là ma túy, loại Methamphetamine, Q mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng (mẫu số A1), đưa Q, vật chứng và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Diêm Điền lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Trung Q nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Bản kết luận giám định số 153/KLGĐMT-PC09 ngày 06/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Vật chứng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5511 gam (Không phẩy năm nghìn năm trăm mười một gam);

Methamphetamine STT:09, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định trên.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKSTT ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Bùi Trung Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Trung Q và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Trung Q mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ 0,5511 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng và bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Sỹ H và ông Đoàn Văn D. Ngoài ra, còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật; biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình lập; Kết luận giám định số 153/KLGĐMT-PC09 ngày 06/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Trung Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; Bị cáo có thời gian tham gia Q đội; ông Bùi Công Duấn là bố đẻ bị cáo là thương binh loại 4/4 nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, lần đầu tàng trữ ma túy để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma tuý: Trong vụ án này, Bùi Trung Q khai mua ma tuý của một người đàn ông khoảng 35 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ ở khu vực cổng Bệnh viện Đa khoa huyện Thái Thụy, thuộc tổ dân phố số 7, thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thái Thụy không có căn cứ xác minh để xử lý.

Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

quyÕt ®Þnh:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Trung Q 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy sau giám định còn lại 0,4770 gam. (Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 25/7/2022).

5. Về án phí: Bị cáo Bùi Trung Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trung Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/8/2022. Nơi nhận:

Cỡ chữ