vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn Đ 02(hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 22/7/2022. Phạt bổ sung bị cáo Trƣơng Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn Đ - Bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƢƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày: 08 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Xuân Trƣờng

2. Bà Bùi Thị Ngoan

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Khánh Ly - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2022/TLST-HS ngày 03/11/2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 23/11/2022 đối với:

1. Bị cáo Trƣơng Văn Đ, sinh ngày 01/8/1977 tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cƣ trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Không xác định; Họ và tên mẹ: Trƣơng Thị L (đã chết); Vợ: Trƣơng Thị T, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2013;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 18/2018/HSST ngày 19/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tiển Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và phạt bổ sung 5.000.000đồng, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2020, chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 25/7/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/8/2018.

Nhân thân: Mẹ bị cáo là Trƣơng Thị L đƣợc tặng Kỷ niệm chƣơng thanh niên xung phong

Từ năm 1996 đến 1998 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Ban tham mƣu hành chính Trƣờng trung học biên phòng.

Ngày 28/11/2008, UBND tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 3283 áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở giáo dục đối với Trƣơng Văn Đ do có hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong ngày 30/01/2011.

Ngày 15/8/2013, Công an huyện Tiền Hải ra Quyết định số 151/QĐ-XPVPHC số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đáng bạc. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/7/2022 đến ngày 31/7/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình. Bị cáo đƣợc trích xuất, có mặt.

2. Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1973, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

3. Người làm chứng:

- Anh Đặng Văn H, sinh năm 1970, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

4. Người chứng kiến:

- Ông Bùi Văn H, sinh năm 1961, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 22/7/2022, anh Đ dùng số điện thoại 0813.086.746 gọi đến số 0878.512.250 của bị cáo Đ hỏi: “ Mày có không để cho anh bốn trăm”. Bị cáo hiểu anh Đ muốn hỏi mua 400.000 đồng ma túy nên bị cáo trả lời: “ Để em xem đã”. Sau đó bị cáo tìm mua 01 gói ma túy của ngƣời đàn ông khoảng 45 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu vực cống Tân Lập với giá 200.000 đồng . Bị cáo chia gói ma túy mua đƣợc thành 02 phần và dùng giấy trắng có chữ viết và ni lon màu vàng gòi thành 02 gói cho vào túi quần đang mặc phái trƣớc bên phải rồi bị cáo gọi điện thoại hẹn anh Đ khoảng 11 giờ ra khu vực bến đò Cồn Nhì, xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xƣơng để bán ma túy cho anh Đ. Sau đó anh Đ rủ bạn là anh H đi cùng. Khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày khi anh Đ và anh H đến điểm hẹn thì bị cáo đã có mặt ở đó. Khi gặp nhau, anh Đ đƣa cho bị cáo 400.000đồng, bị cáo nhận tiền cho vào túi quần đang mặc bên phải rồi đƣa cho anh Đ gói ma túy. Anh Đ nhận ma túy bỏ vào túi áo ngực bên trái thì bị Tổ công tác Công an huyện Kiến Xƣơng bắt quả tang. Thu tại túi áo ngực bên trái của anh Đ 01 gói bên ngoài gói bằng nilon màu vàng, lớp tiếp theo gói bằng giấy trắng có chữ viết, trong cùng chứa chất bột màu trắng dạng cục và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen cùng sim số thuê bao 0813.086.746. Thu túi quần đang mặc phía trƣớc bên phải của bị cáo số tiền 400.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh cùng sim số thuê bao 0878.512.250 và 01 gói bên ngoài gói bằng ni lon màu vàng, lớp tiếp theo gói bằng giấy trắng có chữ viết, trong cùng chứa chất bột màu trắng dạng cục. Khám xét khẩn cấp nơi cƣ trú của bị cáo Đ nhƣng không phát hiện, thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 299/KL-KTHS(MT) ngày 25/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận:

“Mẫu vật quản lý của Hoàng Văn Đ gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lƣợng là 0,0430 gam; Mẫu vật quản lý của Trƣơng Văn Đ gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lƣợng là 0,0504 gam”.

Tại Kết luận giám định số 160/KL-KTHS(TL) ngày 25/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: 04 tờ tiển Việt Nam loại Polymer mệnh giá 100.000 đồng là tiền thật”.

Vật chứng của vụ án: 0,0430gam Heroine thu của anh Đ sau giám định còn 0,0263 gam và 0,0504 gam Heroine thu của bị cáo Đ sau giám định còn 0,0269 gam trong phong bì niêm phong số 299/KL-KTHS(MT) ngày 25/7/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh số Imel 1: 355229005985029, Imel 2: 355229005085011 cùng sim số thuê bao 0878.512.250 và 400.000 đồng có các số seri OF 17854625, IQ 17646423, RP 16870655, SM 16883459 thu giữ của bị cáo Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen số Imel: 353655068583602 cùng sim số thuê bao 0813086746 thu của anh Đ chuyển Chi cục thi hành án dân sự quản lý theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 69/CT- VKSKX ngày 03/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Trƣơng Văn Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn Đ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 22/7/2022.

Phạt bổ sung bị cáo từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu 0,0263 gam Heroine còn lại sau giám định cùng sim số thuê bao 0813.086.746 thu giữ của anh Đ và 0,0269gam Heroine còn lại sau giám định cùng sim số thuê bao 0878.512.250 thu giữ của bị cáo Đ để tiêu hủy .

Tịch thu 02 điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh và Nokia màu đen cùng số tiền 400.000 đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc.

Bị cáo Đ phải chịu án phi hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, Áp dụng vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của ngƣời làm chứng và ngƣời chứng kiến. Hành vi phạm tội của bị cáo còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau đây: Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang ngày 22/7/2022; Biên bản khám xét tại chỗ ở của Trƣơng Văn Đ; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Hoàng Văn Đ; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Trƣơng Văn Đ; Biên bản làm việc về việc kiểm tra điện thoại của Trƣơng Văn Đ và Hoàng Văn Đ; Kết luận giám định số số 299/KLGĐ-KTHS(MT) ngày 25/7/2022 và Kết luận giám định số 160/KL- KTHS(TL) ngày 25/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ để xác định: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 22/7/2022, tại khu vực bến đò Cồn Nhì thuộc thôn Nam Hòa, xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xƣơng tỉnh Thái Bình, bị cáo Trƣơng Văn Đ có hành vi bán trái phép ma túy loại Heroine có khối lƣợng 0,0403 gam cho anh Hoàng Văn Đ với giá 400.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Trƣơng Văn Đ còn tàng trữ tại túi quần phía trƣớc bên phải 01 gói ma túy loại Heroine có khối lƣợng 0,0504 gam với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Đ đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ".

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm các quy định của Nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy đồng thời ảnh hƣởng tiêu cực đến đời sống xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức đƣợc tác hại của ma túy nhƣng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật, đạo đức xã hội, mua ma túy về bán trái phép cho đối tƣợng nghiện để kiếm lời. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo Đông bị xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2020, ngày 22/7/2022 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhƣng ngày 25/7/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung do đó lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và có mẹ đƣợc tặng thƣởng kỷ niệm chƣơng thanh niên xung phong - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối bị cáo là phù hợp quy định tại khoản 5 Điều 251 bộ luật hình sự.

Xét thấy: về nguồn gốc 0,0934 gam Heroine, bị cáo khai mua tại khu vực cống Tân Lập là địa bàn giáp ranh giữa xã Nam Hải và xã Hồng Tiến, do không xác định đƣợc ngƣời bán nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với anh Hoàng Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,0403 gam Heroine mua của bị cáo Đ mục đích để sử dụng nhƣng khối lƣợng không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, anh Đ trƣớc đó chƣa có tiền án, tiền sự về các tội phạm liên quan đến ma túy nên Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã xử lý hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với anh Đặng Văn H là ngƣời đi cùng với anh Đ nhƣng anh H không biết anh Đ đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- 0,0532 gam Heroine còn lại sau giám định thu giữ của anh Đ và của bị cáo Đ là chất ma túy Nhà nƣớc cấm tàng trữ, cấm lƣu hành; sim số thuê bao 0813.086.746 thu giữ của anh Đ; sim số thuê bao 0878.512.250 thu giữ của bị cáo Đ, do không còn giá trị sử dụng, không đề nghị nhận lại vì vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Số tiền 400.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ là tiền do bán ma túy mà có vì vậy cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nƣớc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen thu giữ của anh Đ, 01 điện thoại Goly màu xanh thu của bị cáo Đ là công cụ, phƣơng tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nƣớc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Trƣơng Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Trƣơng Văn Đ 02(hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ 22/7/2022.

Phạt bổ sung bị cáo Trƣơng Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,0263 gam Heroine còn lại sau giám định thu của anh Hoàng Văn Đ và 0,0269 gam Heroine còn lại sau giám định thu của bị cáo Đ trong phong bì niêm phong số 299/KLGĐ-KTHS(MT);

- Tịch thu tiêu hủy sim số thuê bao 0813.086.746 thu giữ của anh Đ và sim số thuê bao 0878.512.250 thu giữ của bị cáo Đ;

- Tịch thu để nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 400.000 đồng trong phong bì niêm phong số 160/KL- KHHS có các số sêri: OF 17854625, IQ 17646423, RP 16870655, SM 16883459; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Goly màu xanh và 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen.

( Các vật chứng trên đƣợc quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/11/2022).

3. Về án phí: Bị cáo Trƣơng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/12/2022, ngƣời có nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ