- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D, Đă ̣ng Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:70 /2022/HS-ST Ngày: 21-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Trường;
Ông Cao Văn Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông trần Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn K- Sinh năm1973 tại huyện Gi, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: Số nhà 131, ngõ 622 M, phườ ng V, quâ ̣n H, thành phố Hà Nô ̣i; nơi cư trú hiê ̣n nay: Xóm 4, xa Gi, huyê ̣̃
n Gi, tinh Nam Đi ̣̉
nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Ph, sinh năm: 1933 và bà Pha ̣m Thi ̣ N, sinh năm: 1933; vợ là Phương Thi ̣ H, sinh năm 1976; có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 01/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác; bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết đi ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 36 ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy.
2. Nguyễn Văn Th- Sinh năm 1975 tại huyện Gi, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xó m 5, xa Gi, huyê ̣̃
n Gi, tinh Nam Đi ̣̉
nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ng (Đã chết) và bà: Nguyễn Thi ̣ Ng, sinh năm: 1940; vợ là Vũ Thi ̣ Th, sinh năm: 1978; có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 19/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết đi ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 37 ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy.
3. Pha ̣m Văn Ng- Sinh năm 1979 tại huyện Gi, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: Tổ 6, khu Quang Trung, phườ ng Ma, thi ̣ xa Đ, tĩ
̉nh Quảng Ninh; nơi cư trú: Xóm 4, xa Gi, huyê ̣̃
n Gi, tinh Nam Đi ̣̉
nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Pha ̣m Văn S(Đa chết) và bà Nguyễn Thi ̣̃
Kh, sinh năm: 1935; vợ là Lê Thi ̣ Gi, sinh năm: 1982 (Đa ly hôn); có 03 con, lớn nhẫ
́t sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014 (ở cùng me ̣); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 01/7/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết đi ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 38 ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy.
4. Pha ̣m Văn D - Sinh năm 1981 tại huyện Gi, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiê ̣n nay: Xóm 6, xa Gi, huyê ̣̃
n Gi, tinh Nam Đi ̣̉
nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Pha ̣m Văn H, sinh năm 1946 và bà Trần Thi ̣ R, sinh năm 1948; vợ là Nguyễn Thi ̣ L, sinh năm: 1983; có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2022 đến ngày 09/6/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết đi ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 39 ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy.
5. Đă ̣ng Văn B- Sinh năm 1977 tại huyện Gi, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú hiê ̣n nay: Xó m 8, xa Gi, huyê ̣̃
n Giao Thuỷ, tinh Nam Đi ̣̉
nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đă ̣ng Xuân Th (Đã chết) và bà Nguyễn Thi ̣ Ẩ, sinh năm: 1943; vợ là Nguyễn Thi ̣ T, sinh năm: 1979; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2022 đến ngày 09/6/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết đi ̣nh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 40 ngày 25/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Giao Thủy.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân Th, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm 4,
xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: 05 bị cáo có mặt; người chứng kiến vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 31/5/2022, Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1975, trú ta ̣i: xó m 5, xa Gi, huyê ̣̃
n Gi đến nhà Nguyễn Văn K, sinh năm: 1973 ở xóm 4, xa Gi ngỗ
̀i chơi uống nướ c. Ta ̣i đây, Th đă ̣t vấn đề vớ i K rủ mô ̣t số đối tượng đến nhà K đánh ba ̣c ăn tiền. K đồng ý. Thủ go ̣i điê ̣n rủ Pha ̣m Văn Ng, sinh năm: 1979 ở xóm 4 và Đă ̣ng Văn B, sinh năm: 1977, trú ta ̣i: xóm 8 (đều ở xã Gi); K go ̣i điê ̣n thoa ̣i rủ Pha ̣m Văn D, sinh năm: 1981, trú ta ̣i: xóm 6, xã Gi đến nhà K đánh ba ̣c ăn tiền. K lấy 02 bô ̣ bài tú lơ khơ và 01 lo ̣ nhựa để trên giườ ng tầng 2 nhà minh cho cà
́c đối tượng đánh ba ̣c ăn tiền. Khoảng 9 giờ cùng ngày, Ng và D lần lượt đến nhà K cùng Th lên tầng 2 và thống nhất đánh ba ̣c ăn tiền hinh̀ thứ c đánh liêng, mứ c đô ̣ vào gà 50.000 đồng/ván, tố cao nhất 200.000 đồng/ván, ai được sáp hoă ̣c liêng đồng hoa thi bò ̉ vào lo ̣ nhựa cho K 50.000 đồng/ván. Sau đó, B cũng đến nhà K và tham gia đánh ba ̣c cùng các đối tượng. K không tham gia đánh ba ̣c mà ở dướ i canh coi và phu ̣c vu ̣ nướ c cho các đối tượng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, trong lúc Th, Ng, D và B đang đánh ba ̣c ăn tiền thì bị tổ công tác Công an huyê ̣n Giao Thuỷ phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 7.250.000 đồng, thu trên ngườ i các đối tượng 8.000.000 đồng; 01 lo ̣ nhựa (trong lo ̣ có 300.000 đồng tiền hồ); 02 bô ̣ bài tú lơ khơ, 01 chăn ni, 05 điê ̣̉
n thoa ̣i và 02 xe máy các loa ̣i. Quá trinh khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Văn K, tổ công tác
̀ còn thu giữ 01 bô ̣ bài tú lơ khơ nhãn hiê ̣u DOUBLE K, chưa qua sử du ̣ng.
Tại phiên tòa: Nguyễn Văn K khai nhâ ̣n: Sáng ngày 31/5/2022, K đồng ý cho các đối tượng đánh ba ̣c ta ̣i nhà minh và chuẩn bi ̣ bài, 01 lo ̣ nhựa để ai được sáp,
̀
liêng đồng hoa thi bò ̉ ra cho Kết 50.000 đồng tiền hồ; Nguyễn Văn Th khai nhận: Khi đi Th mang theo số tiền 2.000.000 đồng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c. Khi bị bắt giữ, Th bỏ hết tiền xuống chiếu ba ̣c; Pha ̣m Văn Ng khai nhận: Khi đi Ng mang theo 2.000.000 đồng sử du ̣ng vào viê ̣c đánh ba ̣c. Khi bị bắt, Ng đang thắng và bi ̣ thu giữ 2.200.000 đồng dướ i chiếu ba ̣c và 500.000 đồng trong vi. Pha ̣́
m Văn D khai nhận: Khi đi D mang theo khoảng 2.700.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt, D đang thắng và bi ̣ thu giữ 3.350.000 đồng dướ i chiếu ba ̣c và 3.000.000 đồng trong ốp điê ̣n thoa ̣i. Đă ̣ng Văn Bkhai nhận: Khi đi B mang theo 7.000.000 đồng, B chi sử ̉ du ̣ng 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, B đang thua và bi ̣ thu giữ 1.400.000 đồng dướ i chiếu ba ̣c và 4.500.000 đồng trong vi.́
Đại diện VKSND huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K sử dụng nhà ở của mình cho các bị cáo khác đánh bạc để thu tiền hồ; các bị cáo Nguyễn Văn Thủ, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D, Đă ̣ng Văn B, đã sử dụng tổng số tiền 11.550.000 đồng vào việc đánh bạc (đánh Liêng ăn tiền). Vì vậy Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D, Đă ̣ng Văn Bphạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Th Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D, Đă ̣ng Văn B mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và điều kiện thu nhập của các bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho cả 05 bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 11.550.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- Đối vớ i 05 chiếc điê ̣n thoa ̣i các loại đa thu giữ
̃, quá trinh điều tra xà
́c đi ̣nh các bị cáo đã sử du ̣ng làm phương tiê ̣n liên la ̣c để rủ nhau đánh ba ̣c đề nghi ̣ ti ̣ch thu sung ngân sách Nhà nướ c.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 03 bô ̣ bài tú lơ khơ, 01 chăn ni, 01 lọ nhựa.̉
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin cải tạo tại địa phương và được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 11 giờ ngày 31/5/2022, trong lúc các bị cáo Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D và Đă ̣ng Văn B đang đánh ba ̣c dưới hình thức đánh liêng ăn tiền tại nhà của Nguyễn Văn K ở xóm 4, xã Gi, huyê ̣n Gi, tinh̉ Nam Đi ̣nh thì bị tổ công tác Công an huyê ̣n Giao Thuỷ phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 7.250.000 đồng, thu trên ngườ i các bị cáo 8.000.000 đồng (trong đó có 4.000.000 đồng của bị cáo Đă ̣ng Văn B không sử dụng vào việc đánh bạc); 01 lo ̣ nhựa trong lo ̣ có 300.000 đồng tiền hồ . Hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” ăn tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 11.550.000 đồng. Như vậy hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D và Đă ̣ng Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Văn K cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình cung cấp bài cho các bị cáo đánh bạc để thu tiền hồ, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội đánh bạc với vai trò đồng phạm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo đều có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn là lao động chính được chính quyền địa phương xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đồng phạm về tội đánh bạc với vai trò ngang nhau, nên áp dụng hình phạt ngang nhau là phù hợp.
Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy tất cả các bị cáo trong vụ án đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, có hướng tự cải tạo. Vì vậy không nhất thiết buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với tất cả các bị cáo cũng đủ để răn đe giáo dục.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo điều kiện gia đình khó khăn. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 03 bô ̣ bài tú lơ khơ, 01 chăn ni, 01 lọ nhựa đã thu giữ.̉
- Đối vớ i 02 chiếc xe máy đa thu giữ
̃, quá trinh điều tra xà
́c đi ̣nh là tài sản hợp pháp của Pha ̣m Văn Ng và Pha ̣m Văn D, không liên quan đến hành vi đánh ba ̣c nên Cơ quan điều tra đã trả lại là phù hợp.
- Đối vớ i 05 chiếc điê ̣n thoa ̣i di động các loại đa thu giữ
̃ của các bị cáo cụ thể: Th của Nguyễn Văn K 01điện thoại Realme C12; Nguyễn Văn Th 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu; của Phạm Văn Ngọc 01 điện thoại IPHONE 7; Của Phạm Văn D 01 điện thoại SAMSUNG J6+ và của Đặng Văn Bảy 01điện thoại OPPO A51, quá trinh điều tra xà
́c đi ̣nh các bị cáo đã sử du ̣ng làm phương tiê ̣n liên la ̣c để rủ nhau đánh ba ̣c nay ti ̣ch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nướ c.
- Đối với số tiền 15.550.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: Thu giữ tại chiếu bạc 7.250.000 đồng, thu trên ngườ i các bị cáo 8.000.000 đồng; 01 lo ̣ nhựa (trong lo ̣ có 300.000 đồng tiền hồ). Quá trình điều tra xác định số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của Đă ̣ng Văn Bkhông liên quan đến hành vi đánh bạc, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bảy số tiền trên, còn lại số tiền11.550.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, nay tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D, Đă ̣ng Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 01/7/2022).
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 19/7/2022).
+ Xử phạt bị cáo Pha ̣m Văn Ng09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam từ ngày 31/5/2022 đến ngày 01/7/2022).
+ Xử phạt bị cáo Pha ̣m Văn D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2022 đến ngày 09/6/2022).
+ Xử phạt bị cáo Đă ̣ng Văn B09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2022 đến ngày 09/6/2022).
Giao các bị cáo Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D và Đă ̣ng Văn Bcho UBND xã Gi, huyện Gi, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 11.550.000 đồng.
- Ti ̣ch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nướ c 05 chiếc điê ̣n thoa ̣i các loại đã thu giữ cụ thể: Nguyễn Văn K 01điện thoại Realme C12; Nguyễn Văn Th 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu; Phạm Văn Ng 01 điện thoại IPHONE 7; Phạm Văn D 01 điện thoại SAMSUNG J6+ và của Đặng Văn Bảy 01điện thoại OPPO A51.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 03 bô ̣ bài tú lơ khơ, 01 chăn ni, 01 lọ nhựa.̉
(Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng và biên lai thu tiền số: 0000145 lập ngày 23/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo: Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Th, Pha ̣m Văn Ng, Pha ̣m Văn D và Đă ̣ng Văn B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Công an huyện Giao Thủy; - UBND xã Gi; - Mỗi bị cáo: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |