vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 12/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Minh K 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Hoàng Minh K về Ủy ban nhân dân phường 10, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh K Điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày: 12 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Bà Nguyễn Thị Rạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Hoàng Minh K, sinh ngày 28/12/1980, tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi cư trú: Số 327/5/4 đường Quang Trung, phường 10, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng T (chết) và bà Khổng Thị Kim T; Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thúy A và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/4/2022 (có mặt).

- Bị hại: Trần Văn H, sinh năm 2001 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Cao Lệ Q, sinh năm 1972 (mẹ) – (vắng mặt)

2/ Trần Văn C, sinh năm 1971 (cha) - (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án:

1/ Trần Thị Ngọc P, sinh năm 2002 - (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

2/ Trần Trọng N, sinh năm 1996. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng: Ngô Thanh B, sinh năm 1972

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 12/12/2021, bị cáo Hoàng Minh K, có giấy phép lái xe hạng B2 C hiệu lực pháp luật, điều khiển xe ô tô tải, có trọng tải 2300 kg, biển số 51C-702.40 lưu thông trên tỉnh lộ 824 theo hướng từ thị trấn Đ về xã N, huyện Đ, tỉnh Long An. Khi đến đoạn đường thuộc ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo K điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường quy định, lấn tuyến sang trái hướng đi, với mục đích vượt xe ô tô tải không rõ biển số, lưu thông cùng chiều phía trước xe của bị cáo K. Khi bị cáo K vừa điều khiển xe sang phần đường bên trái hướng đi, chưa kịp vượt xe ô tô tải phía trước, xe do bị cáo K điều khiển va chạm vào xe mô tô biển số 65K1-462.64 do Trần Văn H, sinh năm: 2001, nơi cư trú: ấp Thạnh Phước, xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ điều khiển lưu thông đúng tuyến, ngược chiều với xe của bị cáo K gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Trần Văn H bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa Long An Segaero cấp cứu điều trị thương tích và tử vong ngày 12/12/2021, xe mô tô biển số 65K1-462.64 và xe ô tô tải biển số 51C-702.40 bị hư hỏng nhẹ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hoà, tỉnh Long An tiến hành khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm phương tiện trong vụ tai nạn giao thông ngày 12 tháng 12 năm 2021 xác định như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường bị xáo trộn một phần do đưa nạn nhân đi cấp cứu và hoạt động của các phương tiện khác lưu thông trên đường. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn. Mặt lộ nhựa bằng phẳng, rộng 10m, ở giữa đường có vạch sơn không liền nét chia đôi hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau.

Quá trình khám nghiệm chọn trụ điện số 59A nằm trong lề phải hướng từ xã N về thị trấn Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm điểm mốc cố định và chọn lề đường bên phải hướng đi từ xã N về thị trấn Đ làm lề đường chuẩn để đo các dấu vết, phương tiện. Kết quả như sau:

Vị trí đánh số (1) là vết ma sát trên mặt đường, có kích thước 6,2m x 0,3m, đầu vết ma sát hướng về thị trấn Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đo vào lề chuẩn là 3,6m, cuối vết ma sát nằm dưới bánh xe sau bên trái của xe ô tô tải biển số 51C-702.40.

Vị trí đánh số (2) là vết ma sát trên mặt đường, có kích thước 3,5m x 0,3m, đầu vết ma sát hướng về thị trấn Đ, đo vào lề chuẩn là 4,85m, cuối vết ma sát nằm dưới bánh xe sau bên phải của xe ô tô tải biển số 51C-702.40.

Vị trí đánh số (3) là xe ô tô tải biển số 51C-702.40, đang đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng về xã N, huyện Đ, tỉnh Long An và hơi chếch sang lề đường bên trái, tâm trục bánh xe trước bên trái đo vào lề chuẩn là 4m. Tâm trục bánh xe sau bên trái đo vào lề chuẩn là 3,4m, đo đến điểm mốc cố định là 9,2m.

Vị trí đánh số (4) là vùng vật rơi, không rõ hình dạng, kích thước 1,8m x 1,2m, điểm đầu vùng vật rơi ở hướng thị trấn Đ đo vào lề chuẩn là 4,2m, đo đến tâm trục bánh xe trước bên trái của xe ô tô tải biển số 51C-702.40 là 0,5m. Điểm đầu vùng vật rơi ở hướng xã N đo vào lề chuẩn là 4,4m, đo đến tâm trục bánh xe trước xe mô tô biển số 65K1-462.64 là 0,4m.

Vị trí đánh số (5) là xe mô tô biển số 65K1-462.64, ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng về thị trấn Đ, tâm trục bánh xe trước đo vào lề chuẩn là 4,6m, tâm trục bánh xe sau đo vào lề chuẩn là 4m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô tải biển số 51C-702.40: Bên trái gương chắn gió trước cabin bị bể kích thước 1,1m x 0,7m; đầu cabin và cản trước góc bên trái bị cong thụng, bể, bong tróc nhiều mảnh nước sơn màu xanh, có chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, có kích thước 0,77m x 0,4m, điểm gần nhất đo đến mặt đường là 0,4m, do đến tâm bánh xe phía trước, bên trái là 0,93m.

Xe mô tô biển số 65K1-462.64: Mặt trước ốp mũ cao su đầu đèn chiếu sáng, ốp mũ mặt nạ cao su đầu xe và chắn bùn cao su phía trước bị bể, để lại nhiều vết sơn màu xanh; 02 phuộc giảm sốc trước bị cong về sau; mặt tiếp xúc với đất của vỏ bánh trước để lại nhiều vết xướt cao su màu đen có kích thước 0,4m x 0,7m.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1089/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Long An, tình hình thương tích của ông Trần Văn H như sau: Rách da đầu vùng chẩm; Dập môi trên; Sây sát da vùng cổ; Vùng ngực bên trái có vết rách và hằn da dài 6cm, vai phải có vết hằn da dài 8cm; Trầy xước da gối hai chân và mu bàn chân phải; Bầm tụ máu cơ ngực lớn bên phải và cạnh xương ức, bầm tụ máu mặt dưới xương ức (đoạn cán và góc), tụ máu trung thất. Vỡ toác tiểu nhĩ trái, kích thước (1x0,5)cm máu tràn ngập trong bao màng tim. Kết luận nguyên nhân chết của Trần Văn H: Do bị chấn thương nặng vùng ngực gây vỡ tim.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Minh K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSĐH ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Hoàng Minh K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; tuyên bố bị cáo Hoàng Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo Hoàng Minh K mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án..

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):

- Đối với 01 xe ô tô biển số 51C-702.40 là tài sản hợp pháp của bị cáo Hoàng Minh K; ngày 02/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo K là phù hợp nên đề nghị không đề cập, xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 65K1-462.64 là tài sản hợp pháp của Trần Trọng N; N cho bị hại H mượn xe mô tô này để sử dụng và xảy ra tai nạn giao thông; ngày 02/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho Trần Trọng N là phù hợp nên đề nghị không đề cập, xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Minh K đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H tổng số tiền là 210.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H gồm ông Trần Văn C (cha), bà Cao Lệ Q (mẹ) đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan và người làm chứng nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần hai và có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Minh K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1089/2021 ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 17 giờ 05 phút ngày 12/12/2021 trên tỉnh lộ 824 thuộc ấp M, xã N, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Hoàng Minh K có giấy phép lái xe hạng B2 C hiệu lực pháp luật có hành vi điều khiển xe ô tô tải, trọng tải 2300 kg, biển số 51C-702.40 lưu thông hướng từ thị trấn Đ về xã N, huyện Đ, tỉnh Long An. Do điều khiển xe lưu thông không đúng phần đường quy định, lấn tuyến sang trái hướng đi, dẫn đến xe do bị cáo K điều khiển va chạm vào xe mô tô biển số 65K1-462.64 do Trần Văn H điều khiển lưu thông đúng tuyến, ngược chiều xe của bị cáo K gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Trần Văn H tử vong ngày 12/12/2021. Hành vi điều khiển xe ô tô của bị cáo Hoàng Minh K vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng cho ông Trần Văn H.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, cụ thể là xâm phạm an toàn giao thông.

Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc điều khiển xe ô tô, bị cáo điều khiển xe không đúng phần đường quy định lấn tuyến sang trái hướng đi nên gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm cho Trần Văn H tử vong.

Hành vi của bị cáo Hoàng Minh K đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Hoàng Minh K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Minh K phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Hoàng Minh K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021):

- Đối với 01 xe ô tô biển số 51C-702.40 là tài sản hợp pháp của bị cáo Hoàng Minh K; ngày 02/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo K là phù hợp nên không đề cập, xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 65K1-462.64 là tài sản hợp pháp của Trần Trọng N; N cho bị hại H mượn xe mô tô này để sử dụng và xảy ra tai nạn giao thông; ngày 02/01/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho Trần Trọng N là phù hợp nên không đề cập, xem xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Minh K đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H tổng số tiền là 210.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H gồm ông Trần Văn C (cha), bà Cao Lệ Q (mẹ) đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hoàng Minh K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo:

Xử phạt bị cáo Hoàng Minh K 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hoàng Minh K về Ủy ban nhân dân phường 10, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Minh K có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Hoàng Minh K thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm N vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Hoàng Minh K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, N vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết

Cỡ chữ