- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Phước Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 28-9-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil về điều luật áp dụng và hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HS-PT Ngày 24 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Hương
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Vinh và ông Nguyễn Xuân Chiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo: Hoàng Phước Minh T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 28-9-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.
Bị cáo bị kháng nghị: Hoàng Phước Minh T, sinh năm 1991 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Phước Th và bà Trần Thị X; có vợ là Bùi Thị Hương Th và 01 con; tiền án, tiền sự: không; tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 10-10-2021, Hoàng Phước Minh T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 47H-004.79, xe có tải trọng 17.550 tấn (xe của Công ty TNHH HB) chở xi măng xuất phát từ thị xã B, tỉnh Bình Phước về Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến Km 1831 + 800 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện Đ (là đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm giao nhau giữa đường ưu tiên và đường không ưu tiên), T đang điều khiển xe với tốc độ 70km/h thì phát hiện phía trước bên phải theo hướng đi có chị Nguyễn Thị Mỹ N đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48E1-000.43 đi từ tỉnh lộ 682 ra đường Hồ Chí Minh để đi qua đường, lúc này xe mô tô do chị Nguyễn Thị Mỹ N dừng lại ở làn đường dành cho xe thô sơ, nhường đường cho các phương tiện khác đang lưu thông trên đường và từ từ chuyển hướng qua đường. Thấy vậy, T bấm còi cảnh báo và nghĩ rằng chị N sẽ nhường đường nên vẫn giữ nguyên tốc độ của xe, khi khoảng cách giữa xe ô tô và xe mô tô còn 30m thì chị N điều khiển xe mô tô từ bên phải đường qua bên trái đường, lúc này T đánh lái sang phần đường bên trái theo hướng đi để tránh nhưng do tốc độ xe ô tô đi nhanh nên phần đầu bên phải của xe ô tô đã tông vào phần đầu bên trái của xe mô tô do chị N điều khiển, sau khi va chạm, lốp xe bên phải xe ô tô cán qua người chị N, tiếp tục kéo cơ thể chị N thêm khoảng 10m thì văng ra khỏi xe nằm trên phần đường trái theo hướng huyện Đ1 đi huyện C, xe ô tô di chuyển thêm 10m thì dừng lại ở lề đường trái. Hậu quả làm chị N tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Căn cứ các dấu vết để lại trên hiện trường, phương tiện, xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển kiểm soát 47H-004.79 với xe mô tô biển kiểm soát 48E1-000.43 tương ứng trên mặt đường là tại vị trí cách mép đường trái 5m40, cách vạch phân cách làn đường 0m30, nằm trên phần đường trái, cách trụ điện 474 472MĐI/60 là 20m70, cách trục bánh sau xe mô tô biển kiểm soát 48E1-000.43 là 5m10, cách trục bánh sau phải xe ô tô biển kiểm soát 47H-004.79 là 20m05. Được ký hiệu (X) trong sơ đồ hiện trường.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở và kiểm tra ma túy đối với Hoàng Phước Minh T, kết quả không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy.
Bản kết luận giám định ngày 21-10-2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông kết luận: Tại thời điểm giám định an toàn kỹ thuật xe ô tô biển kiểm soát 47H-004.79 ngày 19-10-2021 và xe ô tô biển kiểm soát 47H-004.79 không đảm bảo yêu cầu an toàn kỹ thuật do các nguyên nhân gồm: thông số lốp của tất cả lốp (12 lốp) được lắp trên xe không đúng quy định của nhà sản xuất (quy định lắp lốp cỡ 12R22.5 nhưng thực tế lốp được lắp cỡ 12.00R20); có 01 lốp xe phía ngoài bên trái của trục 03 bị mòn không đồng đều; kính tán xạ ánh sáng của cụm đèn chiếu sáng bên phải bị vỡ; gương phản xạ của đèn chiếu gần bên phải bị vỡ, đèn không sáng; đèn sương mù bên phải bị gãy liên kết, rời khỏi vị trí lắp đặt. Các hệ thống, tổng thành khác hoạt động bình thường.
Công văn số: 972/SGTVT-VT ngày 03-8-2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông trả lời: Việc xe ô tô biển kiểm soát 47H-004.79 sử dụng lốp không đúng theo quy định của nhà sản xuất có ảnh hưởng đến an toàn kỹ thuật của hệ thống lái và hệ thống phanh của xe hay không? Tổ giám định thuộc Sở Giao thông vận tải không có cơ sở để xác định.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 100/TT ngày 12-11-2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận: nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị Mỹ N do dập nát toàn bộ từ vùng bụng dưới rốn xuống đến đùi, cẳng bàn chân hai bên dập nát toàn bộ các tạng trong ổ bụng.
Bản kết luận định giá tài sản số: 47/HĐĐGTS ngày 14-10-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 48E1-000.43 bị thiệt hại là 818.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 28-9-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Phước Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Phước Minh T 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 17-10-2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông kháng nghị không áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và không cho bị cáo Hoàng Phước Minh T được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Phước Minh T thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xử phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, sửa bản án sơ thẩm về điều luật và hình phạt, cụ thể không áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Hoàng Phước Minh T 01 năm tù.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 28-9-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đã kết án bị cáo Hoàng Phước Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Trong vụ án, tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại, không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên tại nơi đường giao nhau, dẫn đến hậu quả chết người; sau khi phạm tội, bị cáo cùng chủ xe bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đại diện hợp pháp của bị hại đã xin bãi nại cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi hậu quả do bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 55/2022/HS-ST ngày 28-9-2022 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil về điều luật áp dụng và hình phạt.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Phước Minh T 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Hoàng Phước Minh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đắk Mil; - VKSND huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện Đ; - CQCSĐT Công an huyện Đắk Mil; - CQTHAHS Công an huyện Đ; - UBND thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu: Tổ HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lê Quốc Hương |