- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc - Nguyễn Văn K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST. Ngày 29/8/2022. V/v tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ngoãn;
Ông Trần Minh Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số nhà 132/1, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964.
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn K kiện ngày 22/7/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc N trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Văn K chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1988, không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống bà N và ông K có 02 (hai) người con chung là anh Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 hiện nay các con đã trưởng thành và sống tự lập. Do phát sinh mâu thuẩn, không cùng quan điểm sống, nhận thấy cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà N và ông K đã ly thân nhau.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Ngọc N vẫn giữ nguyên yêu cầu:
- Về hôn nhân: Yêu cầu không công nhận bà và ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964 là vợ chồng.
- Về con chung: Bà N và ông K có 02 (hai) người con chung là anh Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 hiện nay các con đã trưởng thành và sống tự lập, không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 12/8/2022 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là ông Nguyễn Văn K trình bày:
Ông thừa nhận toàn bộ nội dung bà N trình bày về hôn nhân, thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung là đúng sự thật. Ông không phản đối, không phản tố. Ông không yêu cầu gì trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nội dung tranh chấp:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Văn K bắt đầu chung sống với nhau vào năm 1988 nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó về quan hệ chung sống giữa bà N và ông K không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử không công nhận bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng.
Về con chung: Bà N và ông K có 02 (hai) người con chung là anh Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 hiện nay các con đã trưởng thành và sống tự lập, không yêu cầu xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Tất cả các nội dung trên đều được hai bên đương sự thừa nhận là đúng sự thật nên các đương sự không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 14 và 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Ngọc N và ông Nguyễn Văn K là vợ chồng.
- Về con chung: Bà N và ông K có 02 (hai) người con chung là anh Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 hiện nay các con đã trưởng thành và sống tự lập, không yêu cầu xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Ngọc N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003980 ngày 25/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách. Như vậy bà N đã nộp đủ số tiền án phí. Ông Nguyễn Văn K không chịu án phí.
Báo cho các đương sự đựơc quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THANH BÌNH |