- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Thùy D và Nguyễn Đức Trần A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con của chị Phan Thị Thùy D đối với anh Nguyễn Đức Trần A.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST. Ngày 11-8-2022 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con” NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoài Dinh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Ninh
2/ Ông Nguyễn Thanh Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2022 về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thùy D, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: 7/19B, tổ 7, khu phố Th, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN.
Tạm trú: Nhà thuốc Trường Thọ thuộc khu phố Th, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Trần A, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: thôn Ph, xã Đ, huyện ĐB, tỉnh QN.
Tạm trú: nhà thuốc Trường Thọ, khu phố Th, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN.
Chị Thùy D và anh Trần A đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 12 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Phan Thị Thùy D trình bày:
Chị và anh Trần A chung sống với nhau từ năm 2013, có tìm hiểu trước, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu vào ngày 22-8-2018. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2019, đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên do anh Trần A có mối quan hệ không rõ ràng với người phụ nữ khác, chị nhiều lần bắt gặp anh nhắn tin qua lại, nội dung tin nhắn thì hơn mức tình bạn, cuối năm 2020 chị và anh Trần A có thống nhất nếu tình cảm cả hai không còn thì cả hai đồng ý ly hôn, nên vào ngày 17-11-2020 chị nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu yêu cầu ly hôn, nhưng khi Tòa án giải quyết thì anh Trần A không đồng ý ly hôn nên không đến Tòa án, thương con và không muốn gia đình đỗ vỡ chị tiếp tục cho anh cơ hội , đồng ý rút lại đơn ly hôn lại, nhưng kể từ khi rút lại đơn thì pha anh Trần A vẫn không có thiện chí để sống vui vẻ cùng chị và con, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lợt lạt, hôn nhân không còn hạnh phúc, bất đồng quan điểm sống, từ đó dẫn đến gây gổ, tuy sống chung nhà nhưng không ai nói đến ai. Ngày 14-6-2022 Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử anh Trần A về tội “Vận chuyển hàng cấm” hiện anh Trần A đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu, từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không có gặp nhau bàn chuyện đoàn tụ. Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con tên Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019, hiện 02 con đang sống cùng chị.
Nay chị D yêu cầu được ly hôn với anh Trần A. Về con chung chị yêu cầu được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019, không yêu cầu anh Trần A cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 6 năm 2022 bị đơn - anh Nguyễn Đức Trần A trình bày:
Anh thông nhất với lời trình bày của chị D về hôn nhân, thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung chị D trình bày tất cả đều đúng. Anh thừa nhận vợ chồng chung sống thường bất đồng quan điểm, có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng chung sống không có sự tin tưởng, thường xuyên gây gổ và cải vã về vấn đề tình cảm. Ngày 14-6-2022 Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử anh về tội “Vận chuyển hàng cấm” hiện anh đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu, từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Quá trình ly thân không ai có thiện chí đoàn tụ. Nay trước yêu cầu ly hôn của chị D, anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị D chung sống có 02 người con chung tên Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019. Anh đồng ý giao 02 con chung cho chị D được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: anh không yêu cầu giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị D đối với anh Trần A. Giao cho chị D được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019. Về cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Chị D và anh Trần A đều có đơn đơn nghị xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hàng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị D và anh Trần A chung sống với nhau vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu. Do đó, hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, nay chị D có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của chị D thấy rằng: Mâu thuẫn của anh chị chủ yếu phát sinh từ việc bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn về vấn đề tình cảm do không có sự tin tưởng nhau, từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng của anh chị nhưng anh Trần A không đến, chứng tỏ anh Trần A đã bỏ mặc đến tình cảm của vợ chồng và không có thiện chí được đoàn tụ với chị D. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ và phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Cháu Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019 đang sống cùng chị D. Xét thấy, trong suốt thời gian ly thân chị D vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tốt, cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Nên cần giao cháu L và cháu C cho chị D được quyền tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị D không yêu cầu anh Trần A phải cấp dưỡng nuôi con, nên cần ghi nhận.
Anh Trần A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị D và anh Trần A không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Từ những nhận định như trên, xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị My phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con của chị Phan Thị Thùy D đối với anh Nguyễn Đức Trần A.
- Chị Phan Thị Thùy D được ly hôn với anh Nguyễn Đức Trần A.
2. Về con chung: Giao cho chị Phan Thị Thùy D có quyền và nghĩa vụ tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Đức Bảo L, sinh ngày 15-11-2013 và cháu Nguyễn Đức Bảo C, sinh ngày 14-3-2019. Ghi nhận chị D không yêu cầu anh Trần A cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Đức Trần A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức Trần A không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Chị Phan Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0024471 ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.
6. Chị Phan Thị Thùy D và anh Nguyễn Đức Trần A được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND T. Tây Ninh; - VKSND H. Gò Dầu; - CCTHADS H. Gò Dầu; - UBND thị trấn Gò Dầu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Hoài Dinh |