vanban.org

Bản án 70/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Hạnh K về việc “Xin ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K được ly hôn. Về con chung: Giao 01 con chung là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Hạnh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Hạnh K về việc “Xin ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HNGĐ- ST
Ngày : 19-9- 2022
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Nga

2. Ông Nguyễn Ry

- Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít- Thư ký Tòa án nhân dân Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện K sát nhân dân Hện Bảo L tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà- K sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 166/2022/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1991 Địa chỉ: Thôn Tân Ninh, xã Lộc Châu, thành phố Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hạnh K, sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn 13, xã Lộc Ngãi, Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị H có đơn đề nghị vắng mặt, anh K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Châu, thành phố Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 13/8/2016. Việc chung sống là tự nguyện có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2017 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh K không quan tâm tới gia đình, vợ con, thường xuyên cãi vã nhau, anh K không chịu đi làm, toàn bộ công việc trong gia đình do chị Hạnh gánh vác . Đến tháng 02/2019 anh K bỏ về nhà cha mẹ ruột tại thôn 13, xã Lộc Ngãi, Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2/ 2019 cho đến nay. Quá trình sống ly thân hai người phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau, không liên lạc. Nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy chị Nguyễn Thị Kim H xin được ly hôn với anh K.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K có 01 người con chung tên là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017. Hiện nay cháu H do chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ly hôn chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Nguyễn Hạnh K phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K có tạo lập được một số tài sản chung nhưng chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tòa án nhân dân Hện Bảo L tiến hành đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Hạnh K nhiều lần để làm việc về nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai nào.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về K tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/7/2022 nhưng anh Nguyễn Hạnh K có đơn xin hoãn phiên họp K tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án tiếp tục tiến hành mở phiên họp về K tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 16/8/2022 nhưng không được do anh K vắng mặt, đồng thời chị Nguyễn Thị Kim H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải nữa mà giải quyết vụ án theo pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Viện K sát nhân dân Hện Bảo L tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K được ly hôn. Về con chung cần giao 01 con chung là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Hạnh K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không xem xét, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hạnh K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

II. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp:

Chị Nguyễn Thị Kim H yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với anh Nguyễn Hạnh K, có địa chỉ tại Thôn 13, xã Lộc Ngãi, Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Hện Bảo L.

III. Về nội dung vụ án:

{1} Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K chung sống với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lộc Châu, thành phố Bảo L vào ngày 13/8/2016. Việc chung sống là tự nguyện có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2017 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh K không quan tâm tới gia đình, vợ con, thường xuyên cãi vã nhau, anh K không chịu đi làm, toàn bộ công việc trong gia đình do chị Hạnh gánh vác . Đến tháng 02/2019 anh K bỏ về nhà cha mẹ ruột tại thôn 13, xã Lộc Ngãi, Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 2/ 2019 cho đến nay. Quá trình sống ly thân hai người phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau, không liên lạc. Nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy chị Nguyễn Thị Kim H xin được ly hôn với anh K.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Nguyễn Hạnh K không có mặt nên hòa giải không thành. Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Kim H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn anh Nguyễn Hạnh K cho đến hiện nay cũng không có ý kiến gì về việc giải quyết ly hôn, cũng không làm việc để trình bày về thiện chí hòa giải. Tại biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn Hảo bà Vũ Thị Phúc là cha mẹ ruột của anh K trình bày có biết việc hai vợ chồng chị H anh K có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng nhau về lời ăn tiếng nói, anh K đã trở về nhà bố mẹ sinh sống để vợ chồng có thời gian hàn gắn tình cảm. Ông bà cũng đã hàn gắn tình cảm cho 02 vợ chồng nhưng đến nay vẫn chưa chung sống lại với nhau. Xét thấy hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hai người đã không liên lạc với nhau, không hàn gắn tình cảm được nên cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K được ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.

{2} Về con chung: Xét lời khai của chị Nguyễn Thị Kim H, căn cứ vào giấy khai sinh chị Nguyễn Thị Kim H nộp cho Tòa án thì quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K có 01 người con chung tên là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017. Quá trình vợ chồng sống ly thân chị Nguyễn Thị Kim H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Nguyễn Nhật H. Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng con chung thì cháu Nguyễn Nguyễn Nhật H phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần, chị Nguyễn Thị Kim H có việc làm, có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con và giao con của chị Nguyễn Thị Kim H là có cơ sở và đúng pháp luật, vì vậy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục giao con chung là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu anh Nguyễn Hạnh K cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

{3} Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Kim H trình bày quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K có tạo lập được một số tài sản chung nhưng chị H không có yêu cầu giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{4} Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kim H trình bày quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Hạnh K không có nợ chung nên không có yêu cầu gì do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{5} Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H đối với anh Nguyễn Hạnh K về việc “Xin ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Hạnh K được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là Nguyễn Nguyễn Nhật H, sinh ngày 24/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Hạnh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Kim H đã nộp tại biên lai nộp tiền số 0004489 ngày 20/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Hện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ