- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đối với ông Trần Minh H về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/DS-ST Ngày: 25-7-2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ;
2. Bà Lưu Kim Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 677/2021/TLST-DS ngày 18 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXX-ST ngày 19/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2022/QĐST-DS ngày 28/6/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Địa chỉ: Số 442 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 5, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Tổng Giám đốc.
Địa chỉ chi nhánh: Lầu 8, Tòa nhà ACB Tower, 444A-446 Cách mạng tháng 8, phường 11, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 13/7/2022: Ông Nguyễn Quốc V – Nhân viên xử lý nợ (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Số 55/11C, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc V trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (gọi tắt là ACB) cấp tín dụng cho ông Trần Minh H căn cứ: Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số DNA.CN.2505.140121 ngày 14/01/2021; Hợp đồng cấp tín dụng số DNA.CN.2542.140121 ngày 14/01/2021. Chi tiết như sau: Hạn mức tín dụng/cho vay 5.000.000.000 (Năm tỷ) đồng. Mục đích cho vay: sản xuất kinh doanh – Bổ sung vốn lưu động – Khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn kinh doanh thương mại đồ gỗ. Phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức tín dung. Thời hạn hiệu lực 12 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng cấp tín dụng HMTD (14/01/2021). Thời hạn cho vay: được ghi trên mỗi khế ước nhận nợ và tối đa không quá 06 tháng, kể từ ngày kế tiếp của ngày giải ngân. Lãi suất trong hạn: được quy định cho từng Khế ước nhận nợ cụ thể. Lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm. Để thực hiện các thỏa thuận tín dụng và hợp đồng cấp tín dụng nêu trên, ACB đã giải ngân cho ông Trần Minh H bằng khế ước nhận nợ số 327018969; ngày ký kết và giải ngân ngày 15/01/2021.
Trong quá trình vay nợ tại ACB thì ông Trần Minh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng kể từ kỳ tháng 02/2021, cho nên ngày 3/6/2021 ACB ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ vay còn lại chưa thanh toán của khế ước nhận nợ số 327018969 do ông Trần Minh H vi phạm hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ.
Tạm tính đến ngày 25/7/2022, ông Trần Minh H còn nợ ACB các khoản sau:
Vốn gốc: 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng); lãi trong hạn 174.041.096 đồng; lãi quá hạn 861.883.562 đồng. Tổng cộng: 6.035.924.658 đồng (sáu tỷ không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng).
Ông H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Minh H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DNA.BĐCN.325.140121 được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng Long (tỉnh Đồng Nai) ngày 14/01/2021, số công chứng 000461; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai ngày 15/01/2021. Cam kết thế chấp tài sản ngày 14/01/2021.
Tài sản thế chấp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 21479 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 11/11/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Minh H ngày 12/01/2021.
Ngân hàng ACB yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa:
Buộc ông Trần Minh H trả cho ACB tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 25/7/2022 là 6.035.924.658 đồng (sáu tỷ không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng), trong đó vốn gốc 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 174,041,096 đồng, lãi quá hạn 861,883,562 đồng.
Ông Trần Minh H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ (như nêu trên) tính kể từ ngày 26/7/2022 đến ngày trả hết nợ.
Nếu ông Trần Minh H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm nêu trên được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Minh H.
Theo bản tự khai ngày 23/3/2022 ông Trần Minh H trình bày: Ông có vay ngân hàng ABC số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Vào ngày 15/01/2021 ông có thế chấp quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản tại thửa đất số 887 tờ bản đồ số 14 địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông. Trong thời gian dịch bệnh Covid 19 nên ông có khó khăn trong công việc, ông xin thời hạn 04 tháng bán đất để trả số tiền cho ngân hàng, trong thời hạn 04 tháng nếu ông không bán được đất thì ông đồng ý giao tài sản cho ngân hàng.
Sau đó, Tòa án đã được tống đạt (niêm yết) hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo hòa giải; Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông H vẫn không đến Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, đối chiếu các quy định của pháp luật; có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng, bị đơn ông Trần Minh H phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tố tụng:
- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu khởi kiện ông Trần Minh H thực hiện nghĩa vụ trả nợ thanh toán tiền nợ gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu là nguyên đơn, ông Trần Minh H là bị đơn. Căn cứ khoản 14, 16 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Minh H có địa chỉ thường trú và cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về thủ tục tố tụng khác: Ông Trần Minh H đã được tống đạt (niêm yết) hợp lệ 02 lần (quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và quyết định hoãn phiên tòa) nhưng vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu về nợ gốc: Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu với Trần Minh H có ký hợp đồng cấp tín dụng số DNA.CN.2542.140121 ngày 14/01/2021 và Khế ước nhận nợ số 327018969 ngày 15/01/2021 cho ông H vay số tiền 5.000.000.000 (năm tỷ đồng) để sử dụng vào mục đích cá nhân. Theo trình bày của người đại diện nguyên đơn, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên thì kể từ ngày giải ngân lần đầu tiên (15/01/2021) cho đến hiện nay ông H không thanh toán được đồng nào gốc, lãi. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ vay. Mặc dù, nguyên đơn đã đôn đốc trả nợ theo đúng thời hạn và số tiền mà các bên đã ký kết trong hợp đồng tín dụng nhưng bị đơn vẫn không thực hiện. Xét thấy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Minh H phải thanh toán số nợ gốc 75.000.000.000 (năm tỷ đồng) phù hợp với hợp đồng tín dụng các bên đã ký. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nợ gốc của nguyên đơn.
2.2. Xét yêu cầu về tiền lãi: Căn cứ vào hợp đồng cấp tín dụng số DNA.CN.2542.140121 ngày 14/01/2021 và Khế ước nhận nợ số 327018969 ngày 15/01/2021, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn được quy định trong từng khế ước nhận nợ cụ thể là 10,50%/năm, cố định trong 03 tháng đầu tiên, sau đó được điều chỉnh 03 tháng/lần; lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Kể từ thời điểm giải ngân ngày 15/01/2021 đến nay, ông H không thanh toán được khoản nào tiền gốc, lãi. Do đó, xét chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu về khoản tiền lãi, tính đến ngày 25/07/2022 là đến ngày 25/7/2022 là 6.035.924.658 đồng (sáu tỷ không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng), trong đó vốn gốc 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 174,041,096 đồng, lãi quá hạn 861,883,562 đồng.
Căn cứ Điều 4, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu. Buộc ông Trần Minh H phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 6.035.924.658 đồng (sáu tỷ không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng), trong đó vốn gốc 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 174,041,096 đồng, lãi quá hạn 861,883,562 đồng.
2.3. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số DNA.BĐCN.325.140121 ngày 14/01/2021 và phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai ngày 15/01/2021. Tài sản bị đơn thế chấp để đảm bảo cho khoản vay nói trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể: Thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 21479 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 11/11/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Minh H ngày 12/01/2021.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai không có công trình xây dựng trên đất và cũng không có nhân khẩu nào đang sinh sống trên thửa đất nói trên. Xét việc thế chấp tài sản đảm bảo khoản vay giữa nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định pháp luật nên chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai trong trường hợp ông Trần Minh H không có khả năng thanh toán số tiền nợ còn thiếu cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu.
2.4. Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu buộc ông H tiếp tục trả tiền lãi, lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, hợp đồng cấp tín dụng, khế ước nhận nợ đến ngày trả hết nợ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
2.5. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Trần Minh H phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do nguyên đơn đã đóng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, do đó buộc bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền này.
. Về án phí DSST-ST: Bị đơn phải nộp án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, 35, 39, 68, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, Điều 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 4, 90, 91, 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điều 116, 117, 385, 463, 466, 468 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đối với ông Trần Minh H về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Trần Minh H phải trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu số tiền tạm tính đến ngày 25/7/2022 là 6.035.924.658 đồng (sáu tỷ không trăm ba mươi lăm triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng), trong đó vốn gốc 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 174,041,096 đồng, lãi quá hạn 861,883,562 đồng.
Tài sản bảo đảm thi hành án:
- 01 (một) quyền sử dụng đất tại thửa đất số 887, tờ bản đồ số 24, địa chỉ: xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS 21479 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 11/11/2020, cập nhật chuyển nhượng cho ông Trần Minh H ngày 12/01/2021.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chính lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Minh H có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu.
3. Về án phí: Ông Trần Minh H phải chịu 114.035.924 đồng (Một trăm mười bốn triệu không trăm ba mươi lăm nghìn chính trăm hai mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu số tiền 56.587.000 đồng (Năm mươi sáu triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001935 ngày 30/7/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thường mại Cổ phần Á Châu có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn ông Trần Minh H vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Nhàn |