vanban.org

Bản án 70/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 08/07/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Đức L về việc xin được hư ng án treo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Áp d ng: Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đức L ph m tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đức L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Đức L về việc xin được hư ng án treo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên ph t; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật hình sự và tuyên ph t
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/HS-PT
Ngày: 08-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Ông Võ Việt Minh

Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021, t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 55/2021/TLPT-HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Minh Đức L, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Đức L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Minh Đức L, sinh năm 1996 t i Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã PP, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; iới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh H và bà Phan Thị Ngọc L; Bị cáo có vợ (đăng ký kết hôn sau khi xét xử sơ thẩm), chưa có con; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1967 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại (là chồng và các con của bị hại):

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1965

2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983

3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985

4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990

5. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1992

6. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1997

Anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị L1, chị Nguyễn Thị L2 ủy quyền cho cha ruột là ông Nguyễn Văn H tham gia tố t ng (Văn bản ủy quyền ngày 02/11/2020).

Cùng nơi cư trú: Thôn M, xã PT, huyện TP, tỉnh Bình Thuận.

Tất cả người đ i diện hợp pháp của bị h i vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo bản án sơ thẩm:

Khoảng 07 giờ 00 ngày 24/10/2020, bà Nguyễn Thị K đi bộ từ nhà ra ngã ba đường đất xuống xóm Cửa Sứt giao nhau với Quốc lộ 1A thuộc thôn 1, xã Phước Thể ngồi bên lề đường Quốc lộ 1A chờ đón xe khách đi bệnh viện tỉnh Ninh Thuận khám bệnh. Quá trình bà K chờ đón xe, Nguyễn Minh Đức L điều khiển xe ô tô biển số 65C-017… rẽ vào bỏ đá t i quán t p hóa của chị Đặng Thị H t i Km1607+530m Quốc lộ 1A thuộc thôn Vĩnh Hải, xã Vĩnh Hảo. Sau khi bỏ đá xong, lúc 07 giờ 15 phút cùng ngày L lên xe nổ máy xe nhưng không bật bất kì tín hiệu nào xin lùi xe mà điều khiển xe ô tô 65C-017... lùi về hướng Phan Thiết m c đích để vào ngã ba đường đất xuống xóm Cửa Sứt bên phải đường Quốc lộ 1A hướng Phan Thiết - Phan Rang nơi bà K đón xe để tiếp t c đi bỏ đá. Khi lùi xe được 16,20m đến ngã ba, L phát hiện ghềnh tr c bánh sau xe nên nhìn kính chiếu hậu trái và phải xe ô tô 65C-017... nhưng không phát hiện tr c bánh sau xe cán qua chướng ng i vật gì. L điều khiển cho xe ô tô 65C-017... ch y về phía trước hướng Phan Rang tiếp t c phát hiện tr c bánh sau xe bên trái bị ghềnh, L dừng xe l i leo xuống xe đi ra phía sau đuôi xe phát hiện bà K tư thế nằm ngửa, toàn bộ cơ thể nằm dưới gầm sau đuôi xe ô tô 65C-017... do L điều khiển, đầu bà K cách mép đường chính phải QL 1A là 0,13m. Tr c bánh sau trái xe ô tô 65C - 017… cách mép đường chính phải QL 1A là 0,12m và cách đầu bà K là 1,30m, bà K đã bị tử vong.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường v tai n n giao thông lúc 10 giờ 40 phút ngày 24/10/2020, xác định: Hiện trường xảy ra trong đo n đường thẳng, có ngã ba được t o b i đường QL1A và đường dân sinh không có cọc tiêu, dân cư sinh sống thưa thớt. Mặt đường Quốc lộ 1A được rải nhựa bằng phẳng, có dải phân cách giữa phân chia mặt đường chính thành hai chiều đường xe ch y riêng biệt. Mỗi chiều đường có kẻ v ch (đường liền, đường đứt khúc) bằng sơn trắng phân làn đường. Làn đường 1 rộng 2m, làn đường 2 rộng 3,5m, làn đường 3 rộng 3,5m. Đường dân sinh là đường đất bằng phẳng ngã ba rộng 11,9m.

Theo hướng Phan Thiết - Phan Rang: chọn mép đường chính phải QL1A làm đường chuẩn cho các số đo hiện trường; chọn tr điện số 477BR4 làm điểm cố định của hiện trường. Bà Nguyễn Thị K nằm trên lề đất trong khu vực ngã ba tư thế nằm ngửa, đầu hướng vào lề đường đất bên trái của QL1A - hai chân co gập đưa về hướng Phan Rang, đỉnh đầu cách mép đường chính phải QL1A là 0,13m, gót chân phải cách mép đường chính phải QL1A là 0,82. Đo thẳng từ đỉnh đẩu của Nguyễn Thị K đến ngã ba hướng Phan Rang là 5m.

Xe ô tô biển số 65C-017... dừng trên lề đất bên ngoài mép đường chính phải trong khu vực ngã ba, tr c bánh trước bên trái cách mép đường chính phải QL1A là 0,1m và tr c bánh sau bên trái cách mép đường chính phải QL1A là 0,12m. Đo thẳng từ đỉnh đầu của Nguyễn Thị K đến tr c bánh sau bên trái của xe ô tô 65C-017… là 1,30m và đo thẳng từ gót chân phải đến tr c bánh sau bên trái của xe ô tô 65C-017… là 1,1m.

Hiện trường còn để l i 01 vết cơm nát, có dính đất cát nằm trên mặt đường chính QL1A có kích thước (0,1 x 0,1)m, tâm vết cơm nát cách mép đường chính phải QL1A là 0,2m. Đo thẳng từ tâm vết cơm nát đến tr c bánh sau bên trái xe ô tô 65C-017… là 2,4m. Đo thẳng từ tâm vết cơm nát đến giữa cửa nhà t p hóa Đặng Thị Thu H là 16,2m.

* Khám phương tiện xe ô tô 65C-017…:

Mặt lăn bánh ngoài của tr c bánh sau bên trái có dính cơm, thức ăn rơi vãi nằm rải rác. Mặt lăn bánh trong của tr c bánh sau bên trái có dính chất màu đỏ KT (20x7)cm. Mặt sau phía dưới của chắn bùn tr c bánh sau bên trái có dấu vết ma sát, mất b i KT (65x9)cm.

* Khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị K:

Đa chấn thương vùng đầu mặt, vùng ngực, vùng lưng - mông, 02 tay và chân phải. Xương hộp sọ biến d ng xẹp, sờ nắn có tiếng l o x o bất thường, vỡ xương hộp sọ thành nhiều mảnh phức t p, gãy phức t p xương hàm trên, xương hàm dưới và xương gò má phải.

Ngày 16/11/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận có Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1172/PY-PC09 kết luận nguyên nhân dẫn đến tử vong của Nguyễn Thị K là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ phức t p.

Ngày 24/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuy Phong ra Quyết định trưng cầu giám định an toàn kỹ thuật của xe ô tô 65C-017…. Theo kết luận giám định số 1179/KL Đ-PC09 ngày 12/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Hệ thống lái được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật. Hệ thống phanh gồm Hệ thống phanh chính được lắp đặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật; Hệ thống phanh tay đã bị hư hỏng; Hệ thống khung gầm, hệ thống động cơ, hệ thống điện: đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu, còi: tất cả được lắp lặt đúng vị trí, đúng kỹ thuật, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Minh Đức L 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021, bị cáo kháng cáo xin được hường án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hư ng án treo, vì bản thân bị cáo là quân nhân nhà giàn DK1/19 xuất ngũ, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo mới cưới vợ và vợ đang mang thai, bản thân bị cáo sống cùng cha mẹ, nhưng cha bị cáo đau bệnh thường xuyên, mẹ bị cáo bị bệnh thần kinh, không còn nhận biết người thân, nên bị cáo là lao động chính và là tr cột nuôi sống gia đình.

- Ông Nguyễn Văn H là người đ i diện hợp pháp của người bị h i, đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của những người đ i diện hợp pháp khác của người bị h i có đơn đề ngày 07/7/2021 xin xét xử vắng mặt và xin cho bị cáo được hư ng án treo.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để xử ph t bị cáo 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng: Xét thấy ông Nguyễn Văn H là người đ i diện hợp pháp của người bị h i, đồng thời là người đ i diện theo ủy quyền của những người đ i diện hợp pháp khác của người bị h i có đơn đề ngày 07/7/2021 xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt không gây tr ng i cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v án vắng mặt người đ i diện hợp pháp của bị h i, như đề nghị của bị cáo và Kiểm sát viên là phù hợp với quy định t i điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố t ng hình sự.

Về nội dung: T i phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh Đức L khai nhận hành vi ph m tội phù hợp với lời khai của bị cáo t i Cơ quan điều tra và t i phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, đủ cơ s để kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 24/10/2020, bà Nguyễn Thị K đi bộ từ nhà ra ngã ba đường đất xuống xóm Cửa Sứt giao nhau với Quốc lộ 1A thuộc thôn 1, xã Phước Thể và ngồi bên lề đường Quốc lộ 1A chờ đón xe khách đi bệnh viện tỉnh Ninh Thuận khám bệnh. Lúc này, bị cáo Nguyễn Minh Đức L điều khiển xe ô tô biển số 65C-017... rẽ vào bỏ đá t i quán t p hóa của chị Đặng Thị H t i Km1607+530m Quốc lộ 1A thuộc thôn Vĩnh Hải, xã Vĩnh Hảo. Sau khi bỏ đá xong, lúc 07 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo lên xe nổ máy xe nhưng không bật bất kì tín hiệu nào xin lùi xe mà điều khiển xe ô tô 65C-017... lùi về hướng Phan Thiết m c đích để vào ngã ba đường đất xuống xóm Cửa Sứt bên phải đường Quốc lộ 1A hướng Phan Thiết - Phan Rang, nơi bà K đang đón xe để tiếp t c đi bỏ đá. Khi lùi xe được 16,20m đến ngã ba, bị cáo phát hiện ghềnh tr c bánh sau xe nên nhìn kính chiếu hậu trái và phải xe ô tô 65C-017... nhưng không phát hiện tr c bánh sau xe cán qua chướng ng i vật gì. Bị cáo tiếp t c điều khiển xe ch y về phía trước hướng Phan Rang thì tiếp t c phát hiện tr c bánh sau xe bên trái bị ghềnh, bị cáo dừng xe l i và xuống xe đi ra phía sau đuôi xe thì phát hiện bà K đã tử vong trong tư thế nằm ngửa, toàn bộ cơ thể nằm dưới gầm sau đuôi xe ô tô 65C-017... do bị cáo điều khiển.

Hành vi lùi xe thiếu quan sát và không bật tín hiệu lùi xe như trên của bị cáo đã vi ph m quy định t i khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ, gây ra hậu quả làm chết 01 người, nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự và tuyên ph t bị cáo 09 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Phù hợp với tính chất, mức độ hành vi ph m tội của bị cáo.

Xét kháng cáo xin được hư ng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Quá trình điều tra cũng như t i các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Mặc dù gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng đã tích cực bồi thường thiệt h i cho gia đình bị h i, gia đình bị h i có đơn bãi n i và tha thiết xin cho bị cáo được hư ng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định t i các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, t i giai đo n chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo là quân nhân xuất ngũ thuộc Khung tiểu đoàn quản lý DK1, Vùng 2 Hải Quân; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo sống cùng cha mẹ, nhưng cha thường xuyên ốm đau nên bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi mẹ bị bệnh tâm thần và 02 em gái còn đang đi học.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải t o và việc cho bị cáo được hư ng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; đủ điều kiện áp d ng Điều 65 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến của người đ i diện hợp pháp của bị h i, cho bị cáo được hư ng án treo, t o điều kiện cho bị cáo lao động để đảm bảo cuộc sống gia đình. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với hướng dẫn t i Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định t i điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh Đức L về việc xin được hư ng án treo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Áp d ng: Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh Đức L ph m tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Minh Đức L 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hư ng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 08/7/2021.

Giao bị cáo Nguyễn Minh Đức L cho Ủy ban nhân dân xã PP, huyện TP, tỉnh Bình Thuận là nơi bị cáo đang cư trú để giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh Đức L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2021/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ