vanban.org

Bản án 70/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Cẩm L được ly hôn với ông Phan Văn D.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: bà L xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Cẩm L được ly hôn với ông Phan Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/HNGĐ-ST
Ngày 29-12-2021
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đẳng;

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp tham gia.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 152/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Cẩm L, sinh năm: 1992 (có đơn xin vắng mặt ngày 04/7/2021).

Địa chỉ: Ấp 9, xã T, huyện T, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Phan Văn D, sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 7, xã N, huyện U, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 5 năm 2021, các lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Cẩm L trình bày:

Bà với ông D tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Sau khi về chung sống thì tính tình không hợp, vợ chồng luôn bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến vợ chồng hay giận dỗi, cự cãi, không quan tâm, tôn trọng, nhường nhịn nhau. Mặc dù cha mẹ hai bên hòa giải nhưng vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2020 đến nay. Bà nhận thấy không còn tình cảm và cuộc sống vợ chồng với ông D không mang lại hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông D.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Phan Văn D vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng có bản tự khai về yêu cầu của bà L, ông thống nhất ly hôn, con chung không có, tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Phan Cẩm L và ông Phan Văn D được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Phan Cẩm L có đơn xin vắng mặt khi giải quyết vụ kiện do làm ăn xa và tình hình dịch bệnh, bị đơn ông Phan Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà L, ông D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Cẩm L và ông Phan Văn D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà Phan Cẩm L và ông Phan Văn D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng bà Phan Cẩm L và ông Phan Văn D xảy ra mâu thuẫn, bà L xác định vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông D, ông D cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà L với ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, bà L yêu cầu ly hôn với ông D là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: bà L xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Phan Cẩm L phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Cẩm L được ly hôn với ông Phan Văn D.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: bà L xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm bà Phan Cẩm L phải chịu 300.000 đồng. Bà Phan Cẩm L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006324 ngày 27/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ