vanban.org

Bản án 70/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: công nhận chị Đặng Thị Ngọc H1 và anh Tống Hoàng H2 thuận tình ly hôn. Về con chung: giao cháu Tống Đặng Uyên N, sinh ngày 27/05/2019 cho chị Đặng Thị Ngọc H1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn Đặng Thị Ngọc H1- Tống Hoàng H2"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2021/ HNGĐ - ST
Ngày: 08/12/2021
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung

Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Lê Đức Dũng

- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2021/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2021 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Đặng Thị Ngọc H1, sinh năm: 1996

Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở: ấp 1, xã B, huyện Long T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: anh Tống Hoàng H2, sinh năm: 1991

Địa chỉ: ấp 3, xã T, huyện C, Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Đặng Thị Ngọc H1 trình bày: chị và anh Tống Hoàng H2 tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã T theo giấy chứng nhận kết hôn số 113/2018 ngày 14/12/2018. Đây là lần kết hôn thứ nhất của cả hai.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau và anh H2 không chăm lo làm kinh tế để lo cho gia đình. Chị đã khuyên nhủ anh nhiều lần nhưng không thành và do con còn nhỏ nên chị cố gắng chịu đựng. Đến tháng 8/2020 thì vợ chồng sống ly thân cho tới nay. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Về con chung: có 01 con chung: Tống Đặng Uyên N, sinh ngày 27/5/2019. Hiện nay, cháu Uyên N đang sống với mẹ.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

Nay chị yêu cầu: Xin ly hôn; Về con chung: yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Uyên N và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung: không có.

* Bị đơn anh Tống Hoàng H2 trình bày: Anh thống nhất với toàn bộ phần trình bày của chị H1 về cơ sở kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị H1 không phù hợp với cuộc sống của gia đình chồng nên đề nghị ra ở riêng nhưng anh không đồng ý. Từ đó vợ chồng cãi vã. Đến cuối năm 2020, chị H1 dọn ra ngoài sinh sống và vợ chồng sống ly thân cho tới nay. Nay chị H1 yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn; về con chung: anh đồng ý giao cháu Uyên N cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung: không có.

* Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phát biểu ý kiến:

+ Việc tuân theo pháp luật thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

+ Về nội dung vụ án: cho chị H1 ly hôn anh H2; giao cháu Uyên N cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời anh H2 không cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: chị Đặng Thị Ngọc H1 có đơn yêu cầu ly hôn với anh Tống Hoàng H2 và giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ pháp luật là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về tư cách tham gia tố tụng: chị Đặng Thị Ngọc H1 yêu cầu ly hôn với anh Tống Hoàng H2 nên chị H1 là nguyên đơn, còn anh H2 là bị đơn trong vụ án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: anh H1 và chị H2 kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Xét quan hệ hôn nhân của anh chị nhận thấy: Cả anh chị đều thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay cả hai anh chị thống nhất ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H1 và anh H2 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận cho chị H và anh H thuận tình ly hôn.

Về con chung: chị H1 và anh H2 thống nhất giao cháu Uyên N cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thỏa thuận của anh chị là tự nguyện nên ghi nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị H1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung và anh H2 cũng không cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời anh H2 không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: các đương sự khai không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: các đương sự khai không có và cũng không có ai có đơn yêu cầu giải quyết về nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: chị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Xét thấy quan điểm của đại diện VKS phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp thuận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc H.

- Về quan hệ hôn nhân: công nhận chị Đặng Thị Ngọc H1 và anh Tống Hoàng H2 thuận tình ly hôn.

- Về con chung: giao cháu Tống Đặng Uyên N, sinh ngày 27/05/2019 cho chị Đặng Thị Ngọc H1 trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Tạm thời anh Tống Hoàng H2 không cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, anh H2 được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Khi cần thiết anh H2, chị H1 được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: các đương sự khai không có nên không xem xét, giải quyết

- Về nợ chung: các đương sự khai không có và cũng không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: chị H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà chị H1 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0009276 ngày 01/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Chị H1 đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ