vanban.org

Bản án 70/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Chu Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Chu Thị N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/5/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 1,7798 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Thị N tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Chu Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2020/HS-ST
Ngày: 09-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Hùng

Ông Nguyễn Phi Đỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Chu Thị N; Sinh ngày: 05/6/1991 tại huyện C; tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn T (Đã chết) và bà Trần Thị B; Có chồng: Anh Nguyễn Duy K và 01 con; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2020 đến nay - Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thành L; Sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố 4, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 05/5/2020, tại vỉa hè khu vực giao nhau giữa đường Nguyễn Hằng Chi và đường Trần Phú, thuộc phường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Công an thành phố Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang Chu Thị N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ phía trong ống tay áo bên phải N đang mặc 01 bọc giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 túi nilon trong suốt hình chữ nhật kích thước 04cm x 06cm đựng chất tinh thể màu trắng. Chu Thị N khai nhận chất tinh thể màu trắng đó là ma túy đá N mua về để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 95/GĐMT-PC09 ngày 07/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon kích thước 04cm x 06cm, bên ngoài bọc giấy vệ sinh màu trắng gửi giám định có khối lượng 1,8113 gam là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Chu Thị N khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/5/2020, Chu Thị N có nhu cầu sử dụng ma túy nên dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng vàng có số thuê bao 0396971631 gọi đến số thuê bao 0399809897 của 01 người đàn ông tên P ở thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh hỏi mua ma túy đá thì người này đồng ý bán và hẹn N đến thành phố Hà Tĩnh lấy ma túy. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, N đón xe taxi từ nhà tại thôn A, xã H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đến thị trấn C, huyện C rồi đón xe buýt đi thành phố Hà Tĩnh. Khi đến điểm dừng xe buýt trước cổng khách sạn BMC, thành phố Hà Tĩnh, N xuống xe và gọi điện thoại cho P hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy đá thì P nói đang bận, sẽ có người khác đưa ma túy đến cho N. Một lúc sau, N tiếp tục gọi cho P hỏi lấy tiền mặt hay chuyển khoản thì có 01 người phụ nữ nghe điện thoại nói lấy tiền mặt. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, N tiếp tục gọi vào số điện thoại nói với người phụ nữ là N đang đứng ở điểm dừng xe buýt trước cổng khách sạn BMC. Một lúc sau, người phụ nữ này điều khiển xe mô tô đến chở N đi đến khu vực gần đầu đường Nguyễn Hằng Chi, thành phố Hà Tĩnh. Khi đi vào đường Nguyễn Hằng Chi được khoảng 50 mét thì dừng xe, N đưa cho người phụ nữ 2.000.000 đồng thì người này chỉ tay về phía cột điện ở gần đó và nói “Đồ đó, thấy chưa”. N nhìn thấy ở phía dưới chân cột điện có 01 bọc giấy vệ sinh màu trắng, biết bên trong có ma túy nên Nguyệt xuống xe đi lại nhặt lên bỏ vào phía trong ống tay áo khoác bên phải đang mặc còn người phụ nữ nói trên điều khiển xe đi đâu không rõ. Sau đó, N đi bộ hướng ra đường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh để đón xe buýt về nhà. Khi N đi đến vỉa hè khu vực giao nhau giữa đường Nguyễn Hằng Chi và đường Trần Phú, thuộc phường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh thì bị Công an thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang, thu giữ tang vật. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKSTPHT ngày 14/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh truy tố bị cáo Chu Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Chu Thị N từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ tạm giam 05/5/2020; Hình phạt bổ sung: Không; Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: 1,7798 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 bọc giấy vệ sinh màu trắng, 01 túi nilon trong suốt hình chữ nhật kích thước 04cm x 06cm; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng vàng có gắn thẻ sim 0396971631 của Chu Thị N.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã biết sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 05/5/2020, tại vỉa hè khu vực giao nhau giữa đường Nguyễn Hằng Chi và đường Trần Phú, thuộc phường Trần Phú, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, Chu Thị N đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,8113 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an thành phố Hà Tĩnh bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, Kỷ niệm chương vì chủ quyền an ninh biên giới nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 1,7798 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, 01 bọc giấy vệ sinh màu trắng, 01 túi nilon trong suốt hình chữ nhật kích thước 04cm x 06cm là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng vàng có gắn thẻ sim 0396971631 của bị cáo là công cụ phương tiện phạm tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là phù hợp.

Theo lời khai của bị cáo thì số ma túy trên mua của 01 người đàn ông tên là P và 01 người phụ nữ không quen biết ở thành phố Hà Tĩnh có số điện thoại 0399809897, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Trung tâm viễn thông Viettel Hà Tĩnh cung cấp thông tin đăng ký thuê bao của số điện thoại nói trên nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời nên tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố Chu Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Chu Thị N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/5/2020.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 1,7798 gam Methamphetamine (đã trừ mẫu giám định), 01 bọc giấy vệ sinh màu trắng, 01 túi nilon trong suốt hình chữ nhật kích thước 04cm x 06cm; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng vàng có gắn thẻ sim 0396971631 của Chu Thị N.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Chu Thị N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ