vanban.org

Bản án 70/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 29/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Võ Trọng T 03 (ba) tháng 23 (hai ba) ngày tù (ghi nhận đã chấp hành án xong). Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 03 (ba) tháng 23 (hai ba) ngày tù (ghi nhận đã chấp hành án xong). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2020/HS-ST
Ngày 29-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Mai Văn Tự;

- Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Biết - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Võ Trọng T, sinh năm 1997, tại tỉnh T; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thanh T, sinh năm 1976 và bà Võ Thị Kim N, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-7-2020 đến ngày 16-11-2020 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

2. Huỳnh Tấn P (P), sinh năm 1990, tại Thành phố H; nơi đăng ký HKTT: 59/3A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố H; cỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh T; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1967; có vợ là Đỗ Thị Bích T, sinh năm 1996 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-7-2020 đến ngày 16-11-2020 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 7/2020, trên địa bàn xã T, huyện D, tỉnh T, Võ Trọng T, Huỳnh Tấn P bán số đề theo kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền Bắc và miền Nam cho người khác để thu lợi bất chính. Hàng ngày, người mua số đề điện thoại hoặc nhắn tin cho T để mua, T lưu lại và đưa cho P tính tiền, đến khi có kết quả xổ số thì P dò phơi số đề để tính lãi, lỗ. Sau đó, P giao lại cho T để thanh toán với người mua và chung chi cho người trúng số đề. Sau một tuần bán số đề, nếu thanh toán lãi thì T nhờ Nguyễn Quốc C chuyển tiền vào tài khoản Zalo tên “Mẹ Subeo”.

Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 26/7/2020, tại khu vực ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh T, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp Công an huyện Dương Minh Châu bắt quả tang Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tiền Giang và Kiên Giang. Qua điều tra, xác định những người mua số đề gồm:

- Ngày 26/7/2020, T bán số đề cho Đinh Thị Thu T theo kết quả xổ số tỉnh Tiền Giang và Kiên Giang với tổng số tiền là 3.419.000 đồng, T trúng số đề số tiền 1.365.000 đồng, T chưa thanh toán tiền cho T.

- Ngày 26/7/2020, T bán số đề cho Lê Văn U theo kết quả xổ số tỉnh Tiền Giang với tổng số tiền là 1.525.000 đồng, U không trúng số đề và chưa thanh toán tiền.

Như vậy, ngày 26/7/2020, Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P đã bán số theo kết quả xổ số kiến thiết các đài Tiền Giang và Kiên Giang với tổng số tiền là 6.309.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Về vật chứng vụ án:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu đã thu giữ:

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151542243317 tên Võ Trọng T.

+ 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151549602747 tên Huỳnh Tấn P.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số IMEI 1: 353986108340722, có số sim thuê bao 0963398092 (đã qua sử dụng).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A, số IMEI 1: 356646103902987, số IMEI 2: 356647103902985, có số sim thuê bao 0938518501 (đã qua sử dụng).

+ Tiền Việt Nam: 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu đã ban hành các lệnh kê biên tài sản, cụ thể:

- Lệnh kê biên tài sản số 19/LKBTS ngày 15-10-2020: Phần đất diện tích 2436,4 m2, thửa đất số 310, tờ bản đồ số 50; tọa lạc tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh do Võ Trọng T đứng tên sở hữu.

Cáo trạng số 71/CT-VKS- DMC ngày 19-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố các bị cáo Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Trọng T với mức án bằng thời gian tạm giữ, tạm giam.

+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P với mức án bằng thời gian tạm giữ, tạm giam.

+ Phạt bổ sung các bị cáo từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ.

+ Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn hối cải và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

Vào ngày 26/7/2020 tại khu vực ấp T, xã T, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P đã tham gia đánh bạc thắng, thua bằng tiền dưới hình thức bán số đề theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh Tiền Giang và Kiên Giang nhằm thu lợi bất chính thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 6.309.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt quả tang, phù hợp các các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở sở kết luận các bị cáo Võ Trọng Tvà Huỳnh Tấn P phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Thạch trực tiếp thực hiện hành vi bán số đề; Bị cáo Phước tổng hợp phơi đề và tính tiền trên phơi đề nên cùng chịu mức án ngang nhau.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; đã thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nhất định để sung ngân sách Nhà nước.

Biện pháp tư pháp:

- Điện thoại di động thu giữ của các bị cáo sử dụng để liên lạc với nhau liên quan đến hành vi đánh bạc nên phải tịch thu sung ngân sách nhà nước gồm:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số IMEI 1: 353986108340722, có số sim thuê bao 0963398092 (đã qua sử dụng).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A, số IMEI 1: 356646103902987, số IMEI 2: 356647103902985, có số sim thuê bao 0938518501 (đã qua sử dụng).

- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Tấn P 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151549602747; trả lại cho bị cáo Võ Trọng T 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151542243317 và tiền Việt Nam: 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Võ Trọng T và Huỳnh Tấn P phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Võ Trọng T 03 (ba) tháng 23 (hai ba) ngày tù (ghi nhận đã chấp hành án xong).

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn P 03 (ba) tháng 23 (hai ba) ngày tù (ghi nhận đã chấp hành án xong).

2. Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung Võ Trọng T, Huỳnh Tấn P mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, số IMEI 1: 353986108340722, có số sim thuê bao 0963398092 (đã qua sử dụng).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A, số IMEI 1: 356646103902987, số IMEI 2: 356647103902985, có số sim thuê bao 0938518501 (đã qua sử dụng).

3.2. Tuyên trả cho các chủ sở hữu tài sản cụ thể như sau:

+ Trả lại cho bị cáo Huỳnh Tấn P 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151549602747;

+ Trả lại cho bị cáo Võ Trọng T 01 (một) thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151542243317

+ Trả lại cho bị cáo Võ Trọng T số tiền Việt Nam: 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng, tiền hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng).

3.3. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản sau:

- Lệnh kê biên tài sản số 19/LKBTS ngày 15-10-2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu: Phần đất diện tích 2436,4 m2, thửa đất số 310, tờ bản đồ số 50; tọa lạc tại ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh T do Võ Trọng T đứng tên sở hữu.

4. Về án phí: Bị cáo Võ Trọng T, Huỳnh Tấn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ