- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Vũ K - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2020/HS-PT Ngày: 04-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Sơn
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt; Ông Phạm Văn Tỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Đặng Vũ K do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2020/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B.
- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Vũ K , sinh năm 1986 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện TP, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm giồng; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn X và bà Phạm Thị T; vợ là Nguyễn Thị Kim P (đã ly hôn); có 02 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: ngày 03 tháng 6 năm 2019 bị Công an xã T, huyện TP, tỉnh Bến Tre xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị bắt tạm giữ từ ngày 21 tháng 8 năm 2019 đến ngày 27 tháng 8 năm 2019 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: bà luật sư Trịnh Thị Thanh B– Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh Bến Tre (có mặt);
(Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Đặng Vũ Knh, Trần Văn Q, Trần Đăng P, Nguyễn Hữu Tr).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khu nghĩa địa của gia đình bà Bùi Thị U tại ấp A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre nằm giáp ranh với xã AB, huyện B, tỉnh Bến Tre nằm xa khu dân cư, nên được các con bạc lựa chọn làm địa điểm chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền.
Vào khoảng 13 giờ ngày 21 tháng 8 năm 2019, anh em Đặng Vũ K và Đặng Vũ Knh cùng ngụ ấp A, xã T, huyện TP, tỉnh Bến Tre đến tụ điểm đánh bạc làm cái lắc tài xỉu cho Trần Văn L, sinh năm 1991, nơi cư trú ấp AQ, xã AHT, huyện B, tỉnh Bến Tre, Trần Văn Q, sinh năm 1966, nơi cư trú ấp AH, thị trấn B, Trần Đăng P, sinh năm 1978, nơi cư trú: ấp G, xã AD, huyện B, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Hữu Tr sinh năm 1984, nơi cư trú ấp An P, xã AB, huyện B, tỉnh Bến Tre, cùng nhiều người khác đặt tiền, mỗi bàn đặt cao nhất không quá 20.000.000 đồng cho bên tài hoặc bên xỉu, K trực tiếp lắc, còn KH thì chung chi tiền khi có kết quả thắng thua. Chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày, lực lượng Công an ập đến bắt quả tang, các con bạc quăng tiền xuống chiếu bạc bỏ chạy, còn KH, K, L, Q, P và T bị bắt tại chỗ.
Vật chứng thu giữ gồm: thu tại chiếu bạc 46.000.000 đồng (bốn mươi sáu triệu đồng); thu trên người các con bạc 55.786.000 đồng (năm lăm triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn đồng) gồm: Đặng Vũ K 21.000.000 đồng, Đặng Vũ KH 7.820.000 đồng, Trần Văn L 1.850.000 đồng, Trần Văn Q 3.000.000 đồng, Trần Đăng P 106.000 đồng, Nguyễn Hữu Tr 21.010.000 đồng. 01 đĩa sứ, 03 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa; 01 tấm bạt nhựa có kích thước 03m x 2,08m.
Quá trình điều tra các con bạc khai nhận về số tiền mang theo trong người như sau: Đặng Vũ K khai đem theo 25.000.000 đồng để dùng vào việc đánh bạc, K đưa cho Đặng Vũ KH 4.000.000 đồng để chung chi, còn 21.000.000 đồng thì bị thu giữ khi bắt quả tang; Đặng Vũ K khai đem theo 7.820.000 đồng để dùng vào việc đánh bạc và bỏ trong túi quần; do K đưa tiền chung chi nên chưa sử dụng tiền mang theo thì bị thu giữ khi bắt quả tang; Trần Văn L khai đem 2.600.000 đồng dùng để đánh bạc, lấy ra một số tiền chơi, còn 1.850.000 đồng để trong túi quần thì bị thu giữ khi bắt quả tang; Trần Văn Q khai đem theo 4.100.000 đồng, lấy ra 1.100.000 đồng cầm trên tay chơi đánh bạc, còn 3.000.000 đồng để trong túi quần không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt quả tang Q đang cầm 1.000.000 đồng trên tay thì bị thu giữ cùng với số tiền 3.000.000 đồng trong túi quần. Trần Đăng P khai đem theo 2.000.000 đồng và chơi thua hết. Khi bị bắt quả tang bị thu giữ 106.000 đồng, trong đó có 100.000 đồng Đặng Vũ K cho; Nguyễn Hữu Tr khai đem theo 21.310.000 đồng bỏ trong túi quần (túi quần bên phải 5.010.000 đồng, túi quần bên trái 16.300.000 đồng) không phải dùng đánh bạc mà đi tìm người quen đòi nợ nhưng không gặp nên tham gia chơi đánh bạc, mỗi lần đặt thì móc cọc tiền trong túi quần bên trái 16.300.000 đồng ra đặt tụ rồi bỏ lại vào túi quần, chơi được hai bàn thua 300.000 đồng, khi móc cọc tiền 16.000.000 đồng ra dự định chơi tiếp bàn thứ 3 rồi nghỉ về thì bị Công an ập vào bắt quả tang liền bỏ cọc tiền 16.000.000 đồng vào túi quần bên trái nên bị thu giữ tổng cộng 21.010.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2020/HS-ST ngày 29/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện B đã tuyên bố bị cáo Đặng Vũ K phạm “Tội đánh bạc”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Vũ K 09 (chín) tháng tù, được trừ vào thời gian tạm giữ bị cáo là 07 ngày (từ ngày 21 tháng 8 năm 2019 đến ngày 27 tháng 8 năm 2019), hình phạt còn lại bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 08/6/2020, bị cáo Đặng Vũ K kháng cáo yêu cầu xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền là hình phạt chính;
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Vũ K 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình tạo ra thu nhập nuôi sống cha mẹ già và hai con nhỏ đang đi học. Nếu bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không ai chăm sóc các con. Bị cáo không phải giữ vai trò chính phạm trong vụ án do tất cả các đồng phạm cùng tham gia chơi tài xỉu. Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình có công với đất nước. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo hoặc phạt tiền để bị cáo về nuôi hai con nhỏ và cha mẹ già, gia đình bị cáo có công với đất nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định rằng: xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính nên khoảng 13 giờ 00 ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại khu vực nghĩa địa thuộc ấp AH, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre, Đặng Vũ K , Đặng Vũ KH, Trần Văn Q, Trần Văn L, Trần Đăng P và Nguyễn Hữu Tr đã có hành vi chơi tài xỉu ăn thua bằng tiền trái phép với tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 93.776.000 đồng (trong đó: 46.000.000 đồng thu tại chiếu bạc và thu trong túi quần sẽ dùng vào việc đánh bạc của Đặng Vũ K là 21.000.000 đồng, của Đặng Vũ KH là 7.820.000 đồng, của Trần Văn L là 1.850.000 đồng, của Nguyễn Hữu Tr 16.000.000 đồng, của Trần Đăng P 106.000 đồng, trên tay Trần Văn Q 1.000.000 đồng) thì bị bắt quả tang. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Đặng Vũ K phạm “Tội đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án đối với bị cáo Kha là đúng quy định pháp luật, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Vũ K yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo hoặc phạt tiền là hình phạt chính, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo K 09 (chín) tháng tù là quá nhẹ, chưa tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Về nhân thân, năm 2019 bị cáo bị Công an xã T, huyện TP phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc nên không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời qua xem xét quá trình hoạt động của bản thân cho thấy: bị cáo đã bị Tòa án kết án về tội cướp giật tài sản, một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, có một tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng không chịu cải sửa bản thân mà tiếp tục phạm “Tội đánh bạc”. Điều đó đã minh chứng rằng, bị cáo là người khó cải tạo giáo dục nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong khoảng thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung nên không có cơ sở để áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính. Do đó, các yêu cầu kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc” là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Vũ K 09 (chín) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ 07 ngày (từ ngày 21 tháng 8 năm 2019 đến ngày 27 tháng 8 năm 2019); hình phạt còn lại bị cáo Đặng Vũ K phải chấp hành là 08 (tám) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Đặng Vũ K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
| - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân huyện B (3b); - VKSND huyện B (1b); - Công an huyện B (1b); - Chi cục THADS huyện B (1b); - UBND xã T, h.TP (1b); - Bị cáo tại ngoại (1b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Sơn |