vanban.org

Bản án 70/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố:

Bị cáo Bàn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Thị P bị truyMua bán, tàng trữ chất ma túy, Nguyễn Văn H bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép c…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố TTHS; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG
Án số:70/2019/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 10/9/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Nguyễn Văn Ngữ

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh;

Ông Dương Minh Thiết

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Cường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện VKSND Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh

- Kiểm sát viên.

Ngày 10/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2019/HSST ngày 06/8/2019 đối với các bị cáo:

1. Bàn Thị P, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không đi học; Con ông Bàn Phúc Liên và bà Hoàng Thị Thái; Có chồng là Trần Văn C và có 4 con, con lớn sinh năm 2008 con nhỏ sinh năm 2018;

- Nhân thân: Ngày 04/11/2011 bị Công an thành phố Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi bán dâm

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Bị cáo bị bắt quả tang không bị tạm giữ tạm giam được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

2. Trần Văn C, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Khu G, TT B, huyện Yên Thế, Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Trần Mạnh Thắng và bà Trần Thị Nga; Có vợ là Bàn Thị P và có 4 con, con lớn sinh năm 2002 con nhỏ sinh năm 2018;

- Nhân thân: Bản án số 27/2013/HSST ngày 06/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 2 năm 4 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 5.000.000đ và 200.000đ tiền án phí. Bị cáo chấp hành xong tiền phạt, án phí ngày 24/10/2016.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang; (có mặt tại phiên tòa).

* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Kiều O, sinh năm 1982; Sinh quán: Thôn Ng, xã T, huyện Lục Nam, Bắc Giang; Trú tại thôn B, xã Ng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Bàn Thị P, Trần Văn C bị VKSND huyện Lạng Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 09 giờ 50 phút ngày 23/4/2019, tại nhà trọ của Bàn Thị P, sinh năm 1987 ở thôn K, xã H, huyện Lạng Giang, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang Bàn Thị P có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị Kiều O, sinh năm 1982 ở thôn Bằng, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang mua để sử dụng.Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại túi quần phía trước bên phải của O đang mặc 01 gói nhựa màu cam được hàn kín bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá

- Thu trong ví giả da màu xanh của P cầm ở tay phải 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong có: 04 gói nhựa đều được hàn kín (trong đó có 03 gói màu trắng và 01 gói màu tím) bên trong cả 04 gói nhựa đều đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá; 02 đoạn ống nhựa màu cam đều được hàn kín hai đầu, bên trong cả hai đoạn ống nhựa đều đựng một mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy tổng hợp.

- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ do P giao nộp khai là tiền vừa bán ma túy cho O;

- 01 mảnh giấy có một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng thu tại túi quần phía trước bên trái của O. Vật chứng nghi là ma tuý được niêm phong ký hiệu “QT1” và "QT2".

Khám xét khẩn cấp nhà trọ của Bàn Thị P thu giữ:

- 01 túi nilon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong đựng 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt mỗi viên đều có chữ "WY" và 01 mảnh viên nén màu hồng đỏ, tất cả nghi là ma túy tổng hợp; 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá đựng ở trong túi xách treo ở tường cạnh giường ngủ do P giao nộp và khai là ma túy của P. Vật chứng nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu "KX1";

- Thu tại sọt rác nhựa màu đen ở trong nhà 01 hộp hình chữ nhật màu đỏ bên trong đựng 34 đoạn ống nhựa nhiều màu khác nhau; 01 kéo sắt màu trắng.

- Thu tại túi trong áo khoác da treo ở tường cạnh giường ngủ 01 ví giả da màu nâu bên trong có 1.650.000đ; 01 chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Trần Văn C; 01 đăng ký xe mô tô 98M8- 0703 mang tên Nguyễn Trọng Đ; 01 thẻ ATM mang tên Trần Văn C.

- Thu ở trong hòm tôn sát tường bên phải hướng từ cửa đi vào nhà 01 chứng minnh thư nhân dân mang tên Bàn Thị P.

- Bàn Thị P giao nôp 01 nhẫn tay kim loại màu vàng gắn 01 viên đá nhỏ hình tròn; 01 nhẫn tay kim loại màu trắng bạc có gắn đá màu xanh nhạt.

Quá trình khám xét,Trần Văn C là chồng P tự giác lấy ở túi quần nhỏ phía trước bên phải quần bò đang mặc giao nộp 01 gói nhựa màu vàng được hàn kín bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá và khai nhận là ma túy của C; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ trong túi quần phía sau bên phải C đang mặc; 01 dây kim loại màu trắng bạc, 01 nhận tay kim loại màu vàng có gắn 01 viên đá hình tròn do C giao nộp; 01 điện thoại Sony Enicsson, 01 điện thoại Huawei và 01 điện thoại HTC đều thu giữ trên giường ngủ; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M8-0703. Vật chứng thu giữ nghi là ma túy được niêm phong ký hiệu "KX2".

Tại Kết luận giám định số 528/KL-KTHS ngày 24/4/2019của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“Trong một phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nhựa màu cam được hàn kín là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,031 gam.

- Trong một phong bì có ký hiệu "QT2" đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: Tinh thể màu trắng đựng trong 03 túi nhựa màu trắng đều được hàn kín và 01 túi nhựa màu tím được hàn kín đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,543 gam; hai mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong hai đoạn ống nhựa màu cam đều được hàn kín hai đầu đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,060 gam.

- Trong một phong bì có ký hiệu "KX1" đã được niêm phong gửi giám định: Trong một túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, trên một mặt của mỗi viên nén đều có chữ "WY" và 01 mảnh viên nén màu hồng đỏ đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,463 gam; tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu đỏ là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,203 gam.

- Trong một phong bì có ký hiệu "KX2" đã được niêm phong gửi giám định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nhựa màu vàng được hàn kín là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,238 gam".

Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine của P là 1,269 gam; khối lượng ma túy Methamphetamine của C là 0,238 gam; khối lượng ma túy Methamphetamine của O là 0,031 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bàn Thị P, Trần Văn C khai nhận: P và C đăng ký kết hôn năm 2018, cả hai đều nghiện ma túy. Do có con nhỏ nên tháng 3 năm 2019, P và C thuê nhà của bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1966 ở thôn K, xã H, huyện Lạng Giang để ở. P khai, buổi sáng một ngày giữa tháng 4 năm 2019, P đi đến ngã tư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang gặp người thanh niên tên là Chi ở xã Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mua 3.200.000đ ma túy đá và hồng phiến đem về nhà trọ tự chia nhỏ ra làm nhiều phần rồi cho vào các đoạn ống nhựa loại ống nhựa hút nước dùng bật lửa dán kín các đầu lại để trong ví giả da màu xanh và túi xách treo ở tường, mục đích của P là để sử dụng dần và bán lại cho đối tượng nghiện kiếm lời.

Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 23/4/2019, P đang ở nhà trọ nghe thấy tiếng chuông cổng đi ra thấy Lê Thị Kiều O và Phạm Ngọc Hùng, sinh năm 1987 ở thôn Bằng, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang đứng ngoài cổng. O bảo P bán cho 200.000đ ma túy đá để sử dụng, P đồng ý nhận tiền rồi lấy 01 ống nhựa màu cam bên trong có ma túy ở trong ví giả da màu xanh cầm tay đưa cho O rồi quay vào trong nhà thì bị Công an huyện Lạng Giang kiểm tra bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKSND huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX:

- Áp dụng khoản 1 khoản Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Thị P từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

- Áp dụng điểm c khoản 1 khoản Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2019, miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Bị cáo Bàn Thị P, Trần Văn C thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của VKS, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

.Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

.Về tội danh và khung hình phạt: Hồi 09 giờ 50 phút ngày 23/4/2019, Công an huyện Lạng Giang bắt quả tang Bàn Thị P có hành vi bán trái phép 0,031 gam ma túy Methamphetamine cho Lê Thị Kiều O và tàng trữ 1,269 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán.

Quá trình khám xét chỗ ở của P thì Trần Văn C là chồng P đầu thú hành vi tàng trữ 0,238 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, cũng như vật chứng đã thu giữ được, đúng với kết luận giám định số 528/KL-KTHS ngày 24/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận Bàn Thị P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm nguy hiểm khác. Từ nghiện ma tuý làm suy thoái đạo đức, ảnh hưởng kinh tế, sức khoẻ, hạnh phúc gia đình.

Đối với Lê Thị Kiều O có hành vi tàng trữ 0,031 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra làm rõ O chưa bị xử phạt hành chính hay có tiền án về tội ma túy nên không cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/7/2019, Công an huyện Lạng Giang xử phạt hành chính O số tiền 1.500.000đ, HĐXX xét thấy là phù hợp pháp luật nên không đặt ra xem xét.

.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Trần Văn C đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên HĐXX cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 BLHS.

Từ những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và chấp hành pháp luật.

Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt mỗi bị cáo một khoản tiền sung ngân sách nhà nước nhưng xét thấy bị cáo P thuộc diện hộ nghèo, bị cáo C nghiện ma túy, không có công ăn việc làm nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

.Về vật chứng:

- 01 xe mô tô 98M8- 0703;01 đăng ký xe mô tô 98M8- 0703 mang tên Nguyễn Trọng Độ; 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 thẻ ATM mang tên trần Văn C; 01 điện thoại Huawei vỏ màu hồng nhạt đã qua sử dụng; số tiền 100.000đ (niêm phong trong phong bì ký hiệu "Tiền Trần Văn C giao nộp"; 01 dây kim loại màu trắng bạc và 01 nhẫn tay kim loại màu vàng có gắn 01 viên đá hình tròn (niêm phong trong phong bì ký hiệu "TG2" là tài sản của C không liên quan hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Bàn Thị P; 01 điện thoại Sony Enicsson; 01 điện thoại HTC màu tráng đã qua sử dụng; 01 ví da màu xanh đã cũ;01 nhẫn tay kim loại màu vàng gắn 01 viên đá nhỏ hình tròn và 01 nhẫn tay kim loại màu trắng bạc có gắn đá màu xanh nhạt (niêm phong trong phong bì ký hiệu "TG2") là tài sản của P không liên quan hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo.

- 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ đây là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sug quỹ nhà nước.

- Số tiền 1.650.000đ do Trần Văn C giao nộp, được niêm phong trong phong bì ký hiệu "Tiền khám xét vụ Bàn Thị P" không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bị cáo C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 mảnh giấy có một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng; 01 chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Trần Văn C; 01 hộp hình chữ nhật màu đỏ bên trong đựng 34 đoạn ống nhựa nhiều màu khác nhau; 01 kéo sắt màu trắng là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- 04 phong bì niêm phong có dấu đỏ phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang là ma túy hoàn lại sau giám định, là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí:

Bị cáo Bàn Thị P thuộc hộ nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn C phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vỉ các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Về tội danh: Tuyên bố:

Bị cáo Bàn Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2]. Điều luật áp dụng và hình phạt

[2.1]. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt Bàn Thị P 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2.2]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

- Xử phạt Trần Văn C 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/4/2019.

[3]. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố TTHS:

- Trả cho Trần văn C 01 xe mô tô 98M8- 0703; 01 đăng ký xe mô tô 98M8- 0703 mang tên Nguyễn Trọng Đ; 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 thẻ ATM mang tên Trần Văn C; 01 điện thoại Huawei đã qua sử dụng mặt sau màu hồng nhạt; 01 dây kim loại màu trắng bạc và 01 nhẫn tay kim loại màu vàng có gắn 01 viên đá hình tròn (niêm phong trong phong bì ký hiệu "TG2"; số tiền 1.750.000đ (niêm phong trong phong bì ký hiệu "Tiền do Trần Văn C tự giao nộp trong vụ Bàn Thị P", mặt sau có đóng 03 dấu đỏ của Công an xã Hương Sơn, có chữ ký và tên của Trần văn Ngọt, Trần Văn C, Đặng Công Dũng, Đặng Thị Tuyết, Lăng Hoài An) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho Bàn Thị P 01 chứng minh thư nhân dân; 01 điện thoại Sony Enicsson; 01 điện thoại HTC; 01 ví da màu xanh đã cũ; 01 nhẫn tay kim loại màu vàng gắn 01 viên đá nhỏ hình tròn và 01 nhẫn tay kim loại màu trắng bạc có gắn đá màu xanh nhạt (niêm phong trong phong bì ký hiệu "TG2");

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 200.000đ đây là tiền do phạm tội mà có đựng trong bì thư dán kín niêm phong, mặt trước có ký hiệu “Tiền thu giữ trong vụ Bàn Thị P”, mặt sau có đóng 03 dấu đỏ của Công an xã Hương Sơn, có chữ ký và tên của Trần văn Ngọt, Trần Văn C, Lê Thị Kiều O, Bàn Thị P, Đặng Công Dũng, Đặng Thị Tuyết, Dương Quang Hải.

- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy có một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng; 01 chứng minh thư nhân dân phô tô mang tên Trần Văn C; 01 hộp hình chữ nhật màu đỏ bên trong đựng 34 đoạn ống nhựa nhiều màu khác nhau; 01 kéo sắt màu trắng;

- Tịch thu tiêu hủy 04 phong bì niêm phong có dấu đỏ phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chứa ma túy hoàn lại sau giám định.

[4].Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bàn Thị P

Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Án xử sơ thẩm công khai.

Cỡ chữ