vanban.org

Bản án 70/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Châu T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trƣơng Châu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/10/2018 đến ngày 01/02/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Châu T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 70/2019/HS-ST
Ngày 19-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Yến.

Ông Nguyễn Văn Trai.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hiền là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trƣơng Châu T, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1999; nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; nơi thƣờng trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi tạm trú: số 4/36, tổ 5, khu phố 2, phƣờng G, thị xã H, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng Văn D và bà Lê Thị R; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: ngày 16 tháng 9 năm 2018 bị Trƣởng Công an phƣờng G, thị xã H, tỉnh Bình Dƣơng ban hành Quyết định số 1070/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh trật tự, an toàn xã hội về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giam từ ngày 08 tháng 10 năm 2018 đến ngày 01 tháng 02 năm 2019 thay đổi biện pháp ngăn chăn cho bảo lĩnh cho đến nay, có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân D1, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 08/10/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã C phối hợp với công an phƣờng G tiến hành tuần tra, khi đến trƣớc khu vực cổng sau khu công nghiệp VH thuộc khu phố 2, phƣờng G, thị xã H, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện Trƣơng Châu T đang đứng trƣớc cổng khu công nghiệp có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện T đang cầm trên tay phải 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và túi quần phía trƣớc bên phải của T có 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tang vật thu giữ gồm 03 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp.

Trƣơng Châu T khai nhận 03 gói nylon hàn kín nói trên là T mua của một ngƣời tên C1 (không rõ nhân thân và địa chỉ) tại khu vực vòng xoay AP với giá 500.000 đồng để sử dụng.

Ngày 11/10/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có kết luận giám định số 611/MT-PC09 kết luận 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) đƣợc niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lƣợng là 0,0896 gam (M1), 0,5310 gam (M2) loại Methamphetamine. Khối lƣợng còn lại sau giám định là 0,0056 gam (M1) và 0,3499 gam (M2) ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKS-TA ngày 10 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trƣơng Châu T về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ đƣợc niêm phong bên ngoài bì thƣ ghi số vụ 611/PC09 (M1), 611/PC09 (M2).

Lời khai của ngƣời làm chứng Nguyễn Xuân D1 đã trình bày trong quá trình điều tra và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo Trƣơng Châu T đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 08/10/2018, trƣớc cổng khu công nghiệp VH, Cơ quan công an tiến hành kiểm tra phát hiện T đang cầm trên tay phải 01 gói nylon hàn kín và túi quần phía trƣớc bên phải của T có 02 gói nylon hàn kín ma túy có khối lƣợng là 0,0896 gam (M1), 0,5310 gam (M2), tổng khối lƣợng 0,6206 gam loại Methamphetamine. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nƣớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng phạt nhƣng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 16/9/2018 bị Trƣởng Công an phƣờng G, thị xã H, tỉnh Bình Dƣơng ban hành Quyết định số 1070/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh trật tự, an toàn xã hội về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại Lê Văn C1 là liệt sĩ. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ đƣợc niêm phong bên ngoài bì thƣ ghi số vụ 611/PC09 (M1), 611/PC09 (M2).

Đối với hành vi của ngƣời thanh niên tên C1 đã bán ma túy cho bị cáo T, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân và địa chỉ. Do đó, khi nào xác minh sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trƣơng Châu T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Châu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, đƣợc khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/10/2018 đến ngày 01/02/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì thƣ đƣợc niêm phong bên ngoài bì thƣ ghi số vụ 611/PC09 (M1), 611/PC09 (M2).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 01 năm 2019 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).

3. Về án phí: bị cáo Trƣơng Châu T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ