vanban.org

Bản án 70/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;

Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên ố ị cáo Phan Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn M phạm tội tội tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Điểm khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TU
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2019/HS-ST
Ngày: 04-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT E

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Nô;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc n – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số: 59/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 đối v i ị cáo:

Phan Văn A, sinh năm 1985 tại tỉnh N; nơi thường trú: Xóm D, xã Tam Hợp, huyện Q, tỉnh N; tạm trú: Ấp 1, xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: p 01/12; con ông Phan Văn Nh, sinh năm 1944 và à Nguyễn Thị Th, sinh năm 1945; ị cáo có 07 chị, em, l n nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1988; có vợ tên Tr, sinh năm 1985; ị cáo có 02 con, l n sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2018; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2018 cho đ n nay; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo: Bà L, sinh năm 1979 là uật sư của Văn phòng uật sư H thuộc Đoàn uật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Đường số 5, Khu dân cư thương mại U, Khu phố 2, phường U, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tr, sinh năm 1985; nơi thường trú: Ấp 8, xã Phư c T, huyện C, tỉnh ong An; tạm trú: Ấp 1, xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông E, sinh năm 1994; vắng mặt.

2. Ông F, sinh năm 1996; vắng mặt.

3. Ông G, sinh năm 1995; có mặt.

4. Bà L, sinh năm 1984; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

ua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá tr nh xét h i, tranh lu n tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Phan Văn A là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 12 năm 2017, loại ma túy A sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). A tạm trú tại Phòng trọ số 3, khu nhà trọ X thuộc Ấp 1, xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 01 giờ sáng ngày 28/11/2018, A điều khiển xe mô tô iển số 62K1 – 220.54 chở G là ạn của A đi từ nhà trọ của A đ n khu vực n xe H, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương để đón em gái của A. Khi đ n n xe H, A nói E đợi A ở phía trư c cổng n xe, A đi ộ vào trong n xe gặp đối tượng tên S để mua ma túy về sử dụng (A nhiền lần mua ma túy của S). A gặp S hỏi mua 500.000 đồng ma túy, S đồng ý và lấy trong người ra 01 (Một) ịch nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng rồi đưa cho A. Sau khi trả tiền, A để ịch nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng vào quần lót đang mặc. Sau đó, A đi ra chỗ E và ti p tục đợi em gái của A. Tuy nhiên, em gái A gọi điện thoại nói đã đi về nhà trọ rồi nên A điều khiển xe 62K1-220.54 chở E về phòng trọ. Khi đ n khu vực phường Th, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, Tổ tuần tra thuộc Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Bình Dương phát hiện A và E có iểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong quần lót của A đang mặc có một ịch nylon hàn kín ên trong chứa chất tinh thể màu trắng, A khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, lực lượng tuần tra ti n hành niêm phong đối v i ịch nylon chứa chất tinh thể màu trắng trên và đưa A đ n trụ sở Công an phường Th, thị xã TU lập iên ản ắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Công an phường Th thông áo vụ việc đ n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU để thụ lý theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU, tỉnh Bình Dương phối hợp v i Công an xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương ti n hành khám xét Phòng số 03, nhà trọ X thuộc Ấp 1, xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương. Quá trình khám xét phát hiện và thu giữ: 01 (Một) ịch nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng; 03 ống thủy tinh. A khai nhận: 01 (Một) ịch nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng này A mua của S vào ngày 23/11/2018 tại n xe H mang về phòng trọ cất giữ. Ngày 27/11/2018, A đã sử dụng một phần, số ma túy còn lại A cất giấu trong phòng.

Tại K t luận giám định số 22/MT-PC09 ngày 30/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương k t luận: 01 (Một) ịch nylon hàn kín ên trong chứa tinh thể trắng thu giữ của Phan Văn A tại Phòng số 3, nhà trọ X thuộc Ấp 1, xã B, huyện Bắc TU, tỉnh Bình Dương là chất ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,3491 gam.

Tại K t luận giám định số 16/MT - PC09 ngày 03/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương k t luận: 01 (Một) ịch nylon hàn kín ên trong chứa tinh thể trắng thu giữ của Phan Văn A tại phường Th, thị xã TU, tỉnh Bình Dương là chất ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,0098 gam.

Cáo trạng số 71/CT-VKS.TU ngày 07/5/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố ị cáo Phan Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên ố ị cáo Phan Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Phan Văn A từ 05 năm đ n 06 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) ì thư đã được niêm phong, ên trong ì thư có chứa 1,0098 gam chất Methamphetamine, ên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo Phan Văn A, chữ ký người chứng ki n Nguyễn Thanh T, G; chữ ký cán ộ niêm phong Dương Hữu Hiệp, chữ ký giám định viên Nguyễn Ngọc Diệp, chữ ký ông Nguyễn Kim S –Trưởng Công an phường Th và hình dấu mộc đỏ Công an phường Th và mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) ì thư đã được niêm phong, ên trong ì thư có chứa 0,3491 gam chất Methamphetamine, ên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo Phan Văn A, chữ ký người chứng ki n Phan Quốc Tấn; chữ ký cán ộ niêm phong Trần Văn Bình, chữ ký giám định viên Nguyễn Ngọc Diệp, chữ ký ông Trần Văn Tán – Phó Trưởng Công an xã B và hình dấu mộc đỏ Công an xã B, huyện Bắc TU và mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) con dao ằng kim loại dài 20 cm;

- 01 (Một) súng điện tự ch màu đen;

- 01 (Một) cây a trắc ằng kim loại có lốp mũ phía ngoài màu đỏ, loại công cụ hỗ trợ;

- 01 (Một) nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;

- 01 (Một) túi xách da;

- 03 (Ba) ống thủy tinh.

Quá trình điều tra và tại phiên toà ị cáo Phan Văn A khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu trên.

Tại phiên toà, người ào chữa trình ày: Thống nhất v i đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, ị cáo có nhiều tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải và chỉ chỗ giấu ma tuý để Công an dễ dàng thu giữ; có cha được Nhà nư c tặng thưởng Huân chương kháng chi n hạng Nhất; không i t chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn ch ; gia đình thuộc hộ cận nghèo; là lao động chính phải nuôi dưỡng ố mẹ già và con nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho ị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tr trình bày: Bà Tr là vợ của ị cáo A. Bị cáo A là người chịu khó làm ăn và thương yêu vợ con. Tuy nhiên, khi có thai và nuôi con nhỏ thì à Tr về sống v i ố mẹ đẻ tại tỉnh ong An cho nên à không i t ị cáo A nghiện ma tuý và cất giấu ma tuý tại phòng trọ của vợ chồng. Chi c xe mô tô ị cáo sử dụng khi đi mua ma tuý là tài sản riêng của à Tr để lại phòng trọ khi à về nhà cha mẹ sinh sống. Bà không i t ị cáo A sử dụng xe đó đi mua ma tuý. Công an thị xã TU đã trả lại xe mô tô cho à. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo A.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Phan Văn A trình ày: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, hoàn cảnh gia đình ị cáo khó khăn, ản thân là lao động chính phải nuôi mẹ già và con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào k t quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý ki n của Kiểm sát viên, ị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ XÉT THẤY:

1 Về thủ tục tố tụng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa àn thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố vụ án, khởi tố ị can đối v i ị cáo là đúng thẩm quyền. Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã TU, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, ị cáo không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng.

2 Về tình ti t định tội và định khung hình phạt: Tại phiên tòa, ị cáo Phan Văn A đã khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. ời khai của ị cáo phù hợp Biên ản ắt người phạm tội quả tang ngày 28/11/2018 Công an phường Th và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TU lập; k t quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở k t luận:

Bị cáo Phan Văn A đã thực hiện hành vi tàng trữ 1,3589 gam ma túy, loại Methamphetamine v i mục đích để sử dụng, trong đó ngày 23/11/2018 tàng trữ 0,3491 gam và ngày 28/11/2018 tàng trữ 1,0098 gam. Khi thực hiện hành vi phạm tội, ị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của ị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, đủ căn cứ k t luận Cáo trạng số 71/CT-VKS-TU ngày 07/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TU truy tố ị cáo Phan Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Văn A được hưởng tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải”; có cha ruột là ông Phan Văn Nh được tặng thưởng Huân chương kháng chi n hạng Nhất trong công cuộc kháng chi n chống Mỹ cứu nư c theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

5 Căn cứ quy t định hình phạt: Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối v i ị cáo là có căn cứ, phù hợp v i tính chất, mức độ phạm tội, các tình ti t giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo, đủ tác dụng giáo dục ị cáo và răn đe, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét, ý ki n của người ào chữa có căn cứ chấp nhận một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối v i ý ki n của người ào chữa về việc đề nghị áp dụng tình ti t giảm nhẹ là gia đình ị cáo thuộc hộ cận nghèo và ản thân ị cáo là lao động chính phải nuôi cha mẹ già và con nhỏ là không có căn cứ, không phù hợp pháp luật vì lý do hộ gia đình cận nghèo không phải là tình ti t giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, cha mẹ ị cáo có 07 người con nên ị cáo chỉ có nghĩa vụ hỗ trợ một phần nuôi cha mẹ.

6 Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận vì các vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ.

Đối v i chi c xe mô tô iển số 62K1-220.54 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Tr. Bà Tr không có lỗi khi ị cáo sử dụng xe này vào việc phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TU trả xe cho à Tr là phù hợp pháp luật.

[7] Về việc áp dụng, thay đổi, huỷ ỏ iện pháp ngăn chặn: Xét thấy cần ti p tục áp dụng iện pháp ngăn chặn tạm giam đối v i ị cáo Phan Văn A để đảm ảo cho việc thi hành án.

[8 Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và ị k t án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Tuyên ố ị cáo Phan Văn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Phan Văn A 05 (Năm) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày 28/11/2018.

Ti p tục áp dụng iện pháp ngăn chặn tạm giam đối v i ị cáo Phan Văn A để đảm ảo cho việc thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

- 01 (Một) ì thư đã được niêm phong, ên trong ì thư có chứa 1,0098 gam chất Methamphetamine, ên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo Phan Văn A, chữ ký người chứng ki n M, G; chữ ký cán ộ niêm phong Dương Hữu Hiệp, chữ ký giám định viên Nguyễn Ngọc Diệp, chữ ký ông Nguyễn Kim S –Trưởng Công an phường Th và hình dấu mộc đỏ Công an phường Th và mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) ì thư đã được niêm phong, ên trong ì thư có chứa 0,3491 gam chất Methamphetamine, ên ngoài có chữ ký và dấu vân tay của ị cáo Phan Văn A, chữ ký người chứng ki n Q; chữ ký cán ộ niêm phong B, chữ ký giám định viên D, chữ ký ông Trần Văn Tán – Phó Trưởng Công an xã B và hình dấu mộc đỏ Công an xã B, huyện Bắc TU và mộc dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Bình Dương.

- 01 (Một) con dao ằng kim loại dài 20 cm;

- 01 (Một) súng điện tự ch màu đen;

- 01 (Một) cây a trắc ằng kim loại có lốp mũ phía ngoài màu đỏ, loại công cụ hỗ trợ;

- 01 (Một) nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy;

- 01 (Một) túi xách da;

- 03 (Ba) ống thủy tinh.

(Theo Biên ản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2019 của Chi cục Thi hành án dan sự thị xã TU).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phan Văn A phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngh n đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ