vanban.org

Bản án 70/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 29/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Trung T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Trung T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/5/2019. Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “ Tang vật vụ: Lưu Trung T giám định ngày 08/5/2019” mặt sau trên các mép dán … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Trung T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Trung T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TQ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2019/HS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2019

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

--------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TQ

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ;

2. Ông Phạm Văn Ninh.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh TQ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh TQ tham gia phiên tòa: Ông Trần Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/QĐXXST-HS, ngày 16/8/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Trung T, sinh năm 1979 tại tỉnh TQ; trú tại: thôn SL 9, xã AT, T phố TQ, tỉnh TQ; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; con ông Lưu Trọng D (đã chết) và con bà Vũ Thị H (đã chết); vợ: Phan Thị A, sinh năm 1985; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TQ; có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: A Bế Văn T2, sinh năm 1970;

Trú tại: Thôn Hợp T, xã TT, huyện SD, tỉnh TQ; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 08/5/2019 tại xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh TQ tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Sơn lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lưu Trung T trú tại thôn SL 9, xã AT, T phố TQ, tỉnh TQ, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải T đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, mặt trong màu xA, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng ngà, T khai nhận là Hêrôin mua về để sử dụng. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Lưu Trung T, kết quả (+) dương tính (Có chất ma tuý trong cơ thể).

Tại Kết luận giám định số: 340/GĐKTHS ngày 10/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TQ kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà thu giữ của Lưu Trung T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Hêrôin), số thứ tự 09 thuộc dA mục IA, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; khối lượng 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam).

Quá trình điều tra, bị cáo Lưu Trung T khai nhận:

Bản thân T là người nghiện ma túy (Hêrôin). Khoảng 09 giờ ngày 08/5/2019, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 22S2-1554 (xe T mượn của ông Bế Văn T2 trú tại thôn Hợp T, xã TT, huyện SD, tỉnh TQ) đi từ khu vực xã Văn Phú, huyện SD, tỉnh TQ đến khu vực xóm 12, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh TQ để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T gặp và mua được từ một người phụ nữ khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói nhỏ Hêrôin gói bằng giấy bạc bên ngoài màu trắng, mặt trong màu xA, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng ngà với giá 200.000 đồng. Xác định là Hêrôin, T cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ vắng người để sử dụng. Khi đi đến khu vực xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Sơn phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Trên cơ sở hành vi của bị cáo ngày 08 tháng 8 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh TQ đã ban hành Cáo trạng số: 70/CT-VKSYS truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội dA, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lưu Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/5/2019.

Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL bên trong có 01 sim VinaPhone, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 bên trong có 01 sim Viettel; trả lại cho A Bế Văn T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 22S2-1554.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị cáo không trA luận với Luận tội của Đại diện Viện Kiểm sát, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 11 giờ 30 ngày 08/5/2019, tại xóm 11, xã KP, huyện Yên Sơn, tỉnh TQ, Lưu Trung T trú tại thôn SL 9, xã AT, T phố TQ, tỉnh TQ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam) Hêrôin, mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh TQ truy tố bị cáo về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật Hình sự trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; hành vi của bị cáo còn là một trong các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến cuộc sống, hạnh phúc gia đình; ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo T khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức án đối với bị cáo cho phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy rằng bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định là phù hợp.

. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam) Hêrôin cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL bên trong có 01 sim VinaPhone, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 bên trong có 01 sim Viettel của bị cáo xác định không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 22S2-1554, xác định A T2 không biết bị cáo T mượn xe mô tô để đi mua ma tuý nên trả lại chiếc xe trên cho A T2.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Yên Sơn; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo T tại khu vực xóm 12, xã KP, huyện Yên Sơn do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể đã không có căn cứ để điều tra xử lý nên Hội đồng xét xử không xét xét.

Đối với Bế Văn T2, không biết bị cáo T mượn xe mô tô biển kiểm soát 22S2-1554 để đi mua ma túy đã không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo T, ngày 15/5/2019 Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định XPVPHC tại Quyết định số: 149, hình thức: Phạt cảnh cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Lưu Trung T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt: Bị cáo Lưu Trung T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/5/2019.

2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ “ Tang vật vụ: Lưu Trung T giám định ngày 08/5/2019” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Lưu Trung T, T phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TQ;

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đỏ đen. Có số IMEL1: 355057091711920; số IMEL2: 355057091711938, bên trong có lắp một sim VINAPHONE điện thoại cũ không kiểm tra chất lượng bên trong và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE6 màu xám đen. Có số IMEL: 356960069815897 bên trong có lắp một sim VIETTEL. Điện thoại cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, màn hình đã bị nứt vỡ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho A Bế Văn T2 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe Wave màu đen biển kiểm soát: 22S2-1554 có số khung: RLHHC1200AY170147; số máy: HC12E2669475. Xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Sơn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, lập ngày 16/8/2019.).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội.

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh TQ;

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn;

- Bị cáo; Người tham gia TT;

- CQCSĐT Công an huyện;

- Chi cục THADS huyện;

- Sở Tư pháp TQ;

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

- Lưu HS.

Nguyễn Xuân Thủy

Hội đồng xét xử sơ thẩm

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Hồng Việt – Đặng Thị Huệ

Nguyễn Xuân Thuỷ

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tỉnh TQ;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND h. Yên Sơn (2 bản);

- Bị cáo; Người tham gia TT;

- CQCSĐT Công an huyện;

- Chi cục THADS huyện;

- Sở Tư pháp TQ;

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

- Lưu HS.

Nguyễn Xuân Thủy

Hội đồng xét xử sơ thẩm

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Hồng Việt – Đặng Thị Huệ

Nguyễn Xuân Thuỷ

Cỡ chữ