- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị D-Nguyễn Văn Dg"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 53,Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:70/2019/HNGĐ-ST Ngày: 08-7-2019 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Hoàng
2. Bà Phạm Thị Nhâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà:Ông Trần Trung Kiên -Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:114/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn”theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1991
Địa chỉ: Ấp TT, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
2. Bị đơn:Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp TT, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D2 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày: Chị với anh Nguyễn Văn D2 chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ATvào ngày 08/02/2012. Vợ chồng chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hiện nay vợ chồng chị không còn sống chung với nhau. Anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Kim Thoa, sinh ngày 21/10/2011, hiện cháu Thoa đang sống với anh D2 và gia đình anh D2.Chị và anh D2 không có tài sản chung và nợ chung. Chị yêu cầu được ly hôn với anh D2 vì cảm thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn được nữa. Chịđồngý giao con chung cho anh D2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn D2 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện địa phương xác định anh D2 có hộ khẩu thường trú tại ấp TT, xã AT, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu. Do anh D2 thường xuyên đi làm nên địa phương cũng không rõ tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh D2 như thế nào.
Quá trình Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu Nguyễn Kim Thoa, cháu Thoa thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với cha và ông bà nội. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Cảnh là cha ruột anh D2 không đồng ý cho cháu Thoa ký tên vào biên bản, đồng thời ông Cảnh và bà Bào (là cha và mẹ ruột của anh Nguyễn Văn D2) cũng không đồng ý nhận văn bản tố tụng thay anh D2.
Ý kiến của kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71.Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:Đề nghị áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị D đối với anh Nguyễn Văn D2. Giao cháu Nguyễn Kim Thoa, sinh ngày 21/10/2011 cho anh Nguyễn Văn D2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc chị Trần Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn D2 được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Chị Trần Thị D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của chị D và anh D2 không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Anh, Chị và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh D2 và chị D theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Văn D2 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị Dvà anh D2là tự nguyện và hợp pháp. Chị D xác định đã không còn sống chung với anh D2, chị thật sự không còn tình cảm với anh D2 và không thể hàn gắn được mối quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị Dvà anh D2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Kim Th đang sống với anh Nguyễn Văn D2, chị D cũng đồng ý giao cháu Th cho anh D2 trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị D, giao cháu Nguyễn Kim Th sinh ngày 21/10/2011 cho anh Nguyễn Văn D2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Trần Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị D xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 51, Điều 53,Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D đối với anh Nguyễn Văn D2.
2. Về con chung: Giao cháuNguyễn Kim Th, sinh ngày 21/10/2011 cho anh Nguyễn Văn D2 trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. ChịTrần Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Không xem xét, giải quyết.
4. Vềtài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Chị D đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003521ngày 28/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH được chuyển thu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản ản hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện ĐH; - Cơ quan THA huyện ĐH; - Lưu: HS; VT-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Ngọc Diễm |