vanban.org

Bản án 70/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 04/8/2018). Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2018/HS-ST
Ngày 09 - 11 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Sửu và ông Hoàng Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2018/QĐXXST-HS ngày 26/10/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thế P, sinh năm 1981, tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tiểu khu x, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Xuân C (đã chết), con bà Vũ Thị K, sinh năm 1956, chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 16/6/2016 bị UBND thị trấn Yên Châu áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời gian 03 tháng về hành vi sử dụng tráo phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 16/9/2016 (chưa được xóa tiền sự).

Về nhân thân: Tại bản án số 30/2011/HSST ngày 16/3/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 26 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại bản án số 38/2011/HSST ngày 14/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 36 tháng tù về tội trốn khỏi nơi giam, đã chấp hành xong 02 bản án và được xóa án tích.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2018 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 03/8/2018 Nguyễn Thế P mang theo số tiền 600.000 đồng bắt xe khách đến địa phận xã L, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, gặp 01 người đàn ông không biết tên, tuổi qua trao đổi P mua được 01 gói Heroine với giá 380.000 đồng, P lấy một ít ra sử dụng còn lại cất giấu trong túi quần rồi đi về nhà. Đến 22 giờ 15 phút cùng ngày khi Nguyễn Thế P đến tiểu khu x, thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu phát hiện kiểm tra bắt giữ, vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói nilon màu đen bên trong chứa cục bột màu trắng nghi là Heroine.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C2-01.

Ngày 04 tháng 8 năm 2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu phối hợp với Phòng PC54 Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng tang vật thu giữ là 1,67 gam; trích 0,20 gam kí hiệu B gửi giám định, còn lại 1,47 gam kí hiệu P nhập kho tang vật

Tại kết luận giám định số: 939/KLMT ngày 09 tháng 8 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu B là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 1,67 gam loại Heroine.

Bản cáo trạng số: 58/CT-VKSYC ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố Nguyễn Thế P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong là tang vật vụ án Nguyễn Thế P, bên trong có mẫu ký hiệu P = 1,47 gam + 01 mảnh nilon màu đen + 01 phong bì giấy niêm phong ban đầu.

Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA – C2-01, vỏ màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án về án phí.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thế P khai nhận toàn bộ hà nh vi phạm tội của mình , như đã khai tại cơ quan Điề u tra , số ma túy bị thu giữ do bị cáo mua của một người đàn ông, dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ, mục đích mua sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thế P do tổ công tác Công an huyện Yên Châu lập hồi 22 giờ 15 phút, ngày 03/8/2018; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số: 939 ngày 09/8/2018 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại Heroine nằm trong danh mục I, Stt: 9 của Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thế P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc Tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 03/8/2018 bị cáo Nguyễn Thế P đã có hành vi tàng trữ 1,67 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c “Heroine, cocaine, Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” thuộc khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: có 02 tiền án (đã được xóa án tích), ngoài ra bị cáo có 01 tiền sự vào năm 2016 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa được xóa án).

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3 Về hì nh phạ t bổ sung : Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (Một) phong bì niêm phong, bên trong gồm mẫu B = 1,47 gam Heroine; 01 phong bì niêm phong đã bóc mở + 01 mảnh nilon màu đen. Xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy là phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C2-01, máy cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo có giá trị không lớn và không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo, song tạm giữ để bảo thi hành án về phần án phí.

5 Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

6 Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Thế Phương, theo lời khai của Phương là một người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên, địa chỉ cụ thể. Việc trao đổi mua bán ma túy chỉ có Phương và người đàn ông đó biết, Cơ quan cảnh sát Công an huyện Yên Châu không xác định được đối tượng bán ma túy cho Phương nên không đề cập đến việc xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 04/8/2018).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có mẫu P = 1,47 gam + 01 phong bì niêm phong đã bóc mở + 01 mảnh nilon màu đen.

- Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA C2-01, vỏ màu đen, số IMEI 353690073830060 máy cũ đã qua sử dụng của bị cáo để đảm bảo thi hành án về phần án phí;

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Nguyễn Thế Phương phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 09/11/2018).

Cỡ chữ