vanban.org

Bản án 70/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 23/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ và chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V.

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Đ cùng đồng phạm phạm tội 'Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ và chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2018/HS-PT
Ngày 23 – 11 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Quang Hùng và ông Trần Văn Thái.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 89/2018/TLPT-HS ngày 28/9/2018 đối với bị cáo Bùi Văn Đ và đồng phạm do có kháng của bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HSST ngày 23/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện V.

Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn Đ, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông X và con bà Bùi Thị L (đều sinh năm 1954); có vợ là Ngô Thị H, sinh năm 1983 và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

2. Họ và tên: Lê Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S, sinh năm 1968 và con bà Bùi Thị B, sinh năm 1970, có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bị hại có kháng cáo: Ông Bùi Tiến Q, sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bùi Văn U, sinh năm 1945 (là anh trai của bị hại – theo văn bản đề nghị ngày 13/7/2018); nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 02/9/2017, Bùi Văn Đ đang bơm nước rửa sân tại nhà mình thì ông Bùi Tiến Q đi đến đứng trước cổng nhà Đ nói Đ bơm nước làm nước và trấu chảy sang sân nhà ông. Lúc này, giữa Đ và ông Q xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra xô xát gì. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe mô tô tô biển kiểm soát 19P1- 181.96 đi từ nhà đến quán bia R của gia đình bà Ngô Thị O ở Thôn N, xã P, huyện V để uống bia. Khi đến quán bia, Đ gọi điện thoại cho Lê Văn T rủ T đến quán uống bia cùng. T đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88H6- 9770 một mình đi đến quán bia R uống bia cùng với Đ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống bia xong, Đ và T mỗi người điều khiển một xe mô tô đi về nhà. Khi Đ và T về đến cổng nhà Đ thì Đ đi xe vào nhà mình còn T tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà bố mẹ đẻ mình. Khi T điều khiển xe đi đến trước cổng nhà ông Q, thì ông Q bất ngờ cầm 01 thanh gậy gỗ dài 1,13m, một đầu có đường kính 2,7cm, một đầu có đường kính 03cm mở cửa cổng chạy ra đứng ở bên trái xe mô tô của T vụt về phía T. T né được nên không trúng vào người T mà trúng vào xe mô tô của T. Thấy vậy, T dựng xe ở trước cổng nhà ông Q rồi xuống xe lùi về phía cửa nhà mình. Còn ông Q tiếp tục dùng thanh gậy gỗ trên vụt nhiều phát trúng vào đầu xe mô tô của T. Lúc này, Đ đang ở trong sân nhà mình nghe thấy tiếng ầm ầm ngoài đường nên Đ chạy ra xem có chuyện gì thì thấy ông Q đang cầm 01 thanh gậy gỗ đứng trước cổng nhà ông Q vụt về phía T còn T đang lùi về phía cửa nhà Hà cách ông Q khoảng 2-3m. Thấy vậy, Đ chạy đến khu vực gần cột điện ở đầu ngõ cách vị trí ông Q đứng khoảng 6-7m rồi nhặt gạch chỉ đỏ, cục bê tông ở ven đường ném về phía ông Q. Lúc này, T cũng đứng trước cửa cuốn nhà mình cách vị trí ông Q đứng khoảng 10m đến 12m và nhặt gạch chỉ đỏ, cục bê tông ném ông Q. Ông Q cũng nhặt gạch, cục bê tông ném lại Đ và T. Hai bên ném nhau được khoảng 05 phút thì ông X, anh Bùi Xuân C, chị Ngô Thị H (là bố đẻ, anh ruột và vợ Đ), chị Nguyễn Thị M (là vợ T) ra can ngăn đẩy Đ, T vào nhà Đ nên không xảy ra đánh nhau nữa. Hậu quả: Ông Q bị thương được đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã P, sau đó ngày 11/9/2017 ông Q được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 18/9/2017 ra viện. Đ và Hà bị thương tích nhẹ nên không đi khám và điều trị tại cơ sở y tế nào.

Ngay sau khi nhận được tin báo của Công an xã P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường và tổ chức điều tra theo quy định. Quá trình khám nghiệm hiện trường đã tạm giữ một số viên gạch, cục bê tông vỡ, đồng thời tạm giữ của Lê Văn T 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H6- 9770 và tạm giữ của ông Bùi Tiến Q 01 thanh gậy gỗ dài 1,13m, một đầu có đường kính 2,7cm, một đầu có đường kính 03cm.

Ngày 06/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định Pháp y về thương tích đối với ông Bùi Tiến Q.

Ngày 22/9/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 311/TgT kết luận: Tổn hại sức khỏe của ông Bùi Tiến Q ở thời điểm hiện tại là: 02% (Hai phần trăm).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã thông báo kết luận giám định thương tích cho ông Bùi Tiến Q. Ông Q đề nghị được giám định bổ sung thương tích.

Ngày 27/9/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 07 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định bổ sung thương tích đối với ông Bùi Tiến Q.

Ngày 05/10/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định bổ sung Pháp y về thương tích số 325/TgT kết luận: Tổn hại sức khỏe của ông Bùi Tiến Q ở thời điểm hiện tại là: 03% (Ba phần trăm).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã thông báo kết luận giám định bổ sung thương tích cho ông Bùi Tiến Q. Ông Q đồng ý với bản kết luận giám định bổ sung thương tích trên, đồng thời yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự, khởi tố bị can những người đã đánh mình ngày 02/9/2017 tại xã P, huyện V.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung Pháp y về thương tích số 325/TgT chưa đánh giá được thương tích của ông Q ảnh hưởng như thế nào đến chức năng và thẩm mỹ. Do vậy, ngày 27/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 09 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định bổ sung thương tích đối với ông Bùi Tiến Q yêu cầu xác định: Thương tích của ông Q ảnh hưởng đến chức năng của các bộ phận khác trên cơ thể và ảnh hưởng đến thẩm mỹ như thế nào? Dùng các viên gạch, ngói, cục xi măng vỡ đứng ở khoảng cách từ 06m đến 12m với ông Bùi Tiến Q ném trúng vào vùng mặt ông Q có thể gây nên các thương tích như trong bản kết luận giám định bổ sung số 325/TgT ngày 05/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc không?

Ngày 01/11/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 354/TgT kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Hiện tại: Các vết sẹo không ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

- Theo Thông tư số 20/2014/TT- BYT ký ngày 12/6/2014 "có ảnh hưởng chức năng nhai cắn há miệng" không nằm trong danh mục xếp tỷ lệ phần trăm (%) thương tích.

- Dùng viên gạch, ngói, cục xi măng vỡ đứng ở khoảng cách từ 06m đến 12m với ông Bùi Tiến Q và ném trúng vào vùng mặt ông Q có thể gây nên các thương tích trên.

Tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại là: 03% (Ba phần trăm) bằng Q pháp cộng lùi.

Ngày 27/02/2018, ông Bùi Tiến Q có đơn đề nghị giám định bổ sung thương tích gửi kèm theo các tài liệu liên quan đến việc từ ngày 03/02/2018 đến ngày 13/02/2018, ông Q phải đi điều trị thương tích “Máu tụ dưới màng cứng mãn tính bán cầu trái” tại Trung tâm y tế huyện V, Bệnh viện Hưu Nghị Lạc Việt và Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 19/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 02 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định bổ sung thương tích đối với ông Bùi Tiến Q, nội dung yêu cầu giám định:

- Yêu cầu giám định bổ sung đối với thương tích của ông Bùi Tiến Q? Xác định tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại của ông Bùi Tiến Q?

- Cơ chế hình thành vết thương của lần giám định bổ sung này? Thương tích của lần giám định bổ sung này có phải do bị ném gạch, cục bê tông xi măng vào gò má trái và cằm trái ngày 02/9/2017 tại xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc gây ra không? Hay do nguyên nhân nào khác? Mối liên hệ giữa thương tích mà Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đã giám định trong các bản kết luận giám định số 311/TgT ngày 22/9/2017, số 325/TgT ngày 05/10/2017, số 354/TgT ngày 01/11/2017 với thương tích của lần giám định bổ sung này?

Ngày 27/3/2018, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 96/TgT kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

Vết sẹo mổ hình vòng cung vùng thái dương đỉnh trái.

Lỗ khuyết xương sọ vùng đỉnh trái, đáy phập phồng, kích thước (2,5 x 1,5) cm.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại

Qua giám định trực tiếp tại Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc hồi 09 giờ 45 phút ngày 20/3/2018 và nghiên cứu hồ sơ chúng tôi không đủ căn cứ để xác định tổn hại sức khỏe của ông Bùi Tiến Q, sinh năm 1950 ở thời điểm hiện tại do không tìm thấy mối liên hệ giữa thương tích cũ mà Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đã giám định trong các bản kết luận giám định số 311/TgT ngày 22/9/2017, số 325/TgT ngày 05/10/2017, số 354/TgT ngày 01/11/2017 với thương tích giám định bổ sung lần này.

* Kết luận khác:

Qua giám định trực tiếp tại Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc hồi 09 giờ 45 phút ngày 20/3/2018 và nghiên cứu hồ sơ chúng tôi không đủ căn cứ để xác định tổn hại sức khỏe của ông Bùi Tiến Q, sinh năm 1950 ở thời điểm hiện tại, xác định:

- Thương tích ở 03 lần giám định tại bản kết luận giám định số 311/TgT ngày 22/9/2017, số 325/TgT ngày 05/10/2017, số 354/TgT ngày 01/11/2017 là một. Cơ chế hình thành thương tích có thể là do vật tày gây nên (có thể là do bị ném gạch, cục bê tông xi măng vào gò má trái và cằm trái vào ngày 02/9/2017 tại xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc). Chúng tôi không đủ căn cứ để xác định thương tích ở 03 bản kết luận giám định số 311/TgT ngày 22/9/2017, số 325/TgT ngày 05/10/2017, số 354/TgT ngày 01/11/2017 với thương tích lần giám định bổ sung lần này là một hay không.

- Trong 03 bản kết luận giám định số 311/TgT ngày 22/9/2017, số 325/TgT ngày 05/10/2017, số 354/TgT ngày 01/11/2017 Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc không thể hiện thương tích của lần giám định bổ sung này vì tại thời điểm giám định trước chưa có thương tích của lần giám định bổ sung này.

Đến ngày 02/4/2018, Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có công văn về việc bổ sung kết luận số 96/TgT ngày 27/3/2018 với nội dung: Vết sẹo mổ hình vòng cung vùng thái dương đỉnh trái. Lỗ khuyết xương sọ vùng đỉnh trái, đáy phập phồng, kích thước (2,5 x 1,5) cm chúng tôi không thể xác định là do chấn thương hay bệnh lý nên không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm (%) thương tích.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã thông báo kết luận giám định bổ sung thương tích trên cho ông Bùi Tiến Q. Ông Q không đồng ý với bản kết luận giám định bổ sung thương tích trên và yêu cầu giám định lại thương tích tại Viện pháp y Quốc gia.

Ngày 16/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu số 02 đề nghị Viện pháp y Quốc gia giám định lại thương tích đối với ông Bùi Tiến Q. Ngày 09/5/2018, Viện pháp y Quốc gia có Bản kết luận giám định lại pháp y về thương tích số 119/18/TgT kết luận:

* Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm gò má trái kích thước nhỏ không ảnh hưởng thẩm mỹ: 2% (Hai phần trăm).

- Sẹo phần mềm vùng góc cằm trái kích thước nhỏ không ảnh hưởng thẩm mỹ: 01% (Một phần trăm).

- Máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái đã mổ. Khuyết sọ vùng thái dương đỉnh trái kích thước 12mm và sẹo thái dương trái.

Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo thông tư số 20/2014/TT- BYT ký ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm).

* Kết luận khác:

- Thương tích vùng má trái, cằm trái do vật tày tác động gây ra.

- Thương tích vùng thái dương trái là sẹo mổ, khuyết sọ do mổ lấy máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái ngày 09/02/2018 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.

- Không đủ cơ sở khoa học để khẳng định mối liên hệ giữa thương tích được ghi nhận tại Bệnh án số 39069 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và Bệnh án số 1801468 của Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt và Bệnh án số 3732/18 thương tích được ghi nhận của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó không thể khẳng định được "Máu tụ mạn tính dưới màng cứng bán cầu trái là do thương tích gây ra ngày 02/9/2017".

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thông báo bản kết luận giám định lại thương tích trên cho ông Bùi Tiến Q, Bùi Văn Đ và Lê Văn T. Ông Q, Đ và Hà đều đồng ý với bản kết luận giám định lại thương tích trên.

Ngày 06/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H6- 9770. Ngày 04/10/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V có Kết luận định giá tài sản, kết luận: Chi phí sửa chữa chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88H6- 9770 có đặc điểm trên có giá 280.000đ.

Ngày 19/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá tài sản để xác định giá trị thiệt hại của cánh cửa cổng bằng gỗ xoan của ông Bùi Tiến Q. Ngày 20/10/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V có Kết luận định giá tài sản, kết luận: Giá tài sản có đặc điểm trên có giá 250.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Bùi Tiến Q yêu cầu Bùi Văn Đ và Lê Văn T phải bồi thường cho ông số tiền 121.300.000đ. Trong đó tiền bồi thường chi phí khám chữa bệnh và tổn hại sức khỏe là 120.500.000đ, tiền bồi thường do cánh cửa gỗ bị hư hỏng là 800.000đ. Đến nay Đ và Hà đã nộp tại cơ quan thi hành án dân sự huyện V mỗi người 10.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho ông Q.

Các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Văn T đều xin tự nguyện khắc phục hậu quả và không yêu cầu ông Q phải bồi thường gì.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HS-ST ngày 23/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện V đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589, 590, 357, 468 Bộ luật dân sự. Buộc các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T phải liên đới bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 22.956.408 đồng theo kỷ phần, mỗi bị cáo phải bồi thường 11.478.204đ. Xác nhận các bị cáo đã liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ theo kỷ phần mỗi bị cáo 10.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Buộc các bị cáo tiếp tục liên đới bồi thường số tiền còn lại là 2.956.408đ, theo kỷ phần mỗi bị cáo là 1.478.204đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 04/9/2018 bị cáo Bùi Văn Đ có đơn kháng cáo xin hưởng án treo; ngày 04/9/2018 người bị hại Bùi Tiến Q có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với cả hai bị cáo và tăng bồi thường thiệt hại của các bị cáo đối với người bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn Đ và người bị hại Bùi Tiến Q vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ và người bị hại Bùi Tiến Q; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 46/2018/HS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ và bị hại Bùi Tiến Q trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; lời khai của người làm chứng; phù hợp biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa Bùi Văn Đ với người bị hại Bùi Tiến Q trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày dẫn đến hai bên cãi chửi nhau nhưng được mọi người can ngăn nên không xảy ra xô xát. Sau đó Bùi Văn Đ điều khiển xe máy đi uống bia và gọi thì được Lê Văn T đồng ý đến cùng nhau uống bia. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống bia xong, Đ và Hà mỗi người điều khiển một xe mô tô đi về nhà. Khi Đ và Hà về đến cổng nhà Đ thì Đ đi xe vào nhà mình còn Hà tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà bố mẹ đẻ mình. Khi Hà điều khiển xe đi đến trước cổng nhà ông Q thì ông Q bất ngờ cầm 01 thanh gậy gỗ dài 1,13m, một đầu có đường kính 2,7cm, một đầu có đường kính 03cm mở cửa cổng chạy ra đứng ở bên trái xe mô tô của Hà vụt về phía Hà. Hà né được nên không trúng vào người Hà mà trúng vào xe mô tô của Hà. Thấy vậy, Hà dựng xe ở trước cổng nhà ông Q rồi xuống xe lùi về phía cửa nhà mình. Còn ông Q tiếp tục dùng thanh gậy gỗ trên vụt nhiều phát trúng vào đầu xe mô tô của Hà. Lúc này, Đ đang ở trong sân nhà mình nghe thấy tiếng ầm ầm ngoài đường nên Đ chạy ra xem có chuyện gì thì thấy ông Q đang cầm 01 thanh gậy gỗ đứng trước cổng nhà ông Q vụt về phía Hà còn Hà đang lùi về phía cửa nhà Hà cách ông Q khoảng 2-3m. Thấy vậy, Đ chạy đến khu vực gần cột điện ở đầu ngõ cách vị trí ông Q đứng khoảng 6-7m rồi nhặt gạch chỉ đỏ, cục bê tông ở ven đường ném về phía ông Q. Lúc này, Hà cũng đứng trước cửa cuốn nhà mình cách vị trí ông Q đứng khoảng 10m đến 12m và nhặt gạch chỉ đỏ, cục bê tông ném ông Q. Ông Q cũng nhặt gạch, cục bê tông ném lại Đ và Hà. Hai bên ném nhau được khoảng 05 phút thì ông X, anh Bùi Xuân C, chị Ngô Thị H (là bố đẻ, anh ruột và vợ Đ), chị Nguyễn Thị M (là vợ Hà) ra can ngăn đẩy Đ, Hà vào nhà Đ nên không xảy ra đánh nhau nữa. Hậu quả: ông Q bị thương được đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã P, sau đó ngày 11/9/2017 ông Q được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 18/9/2017 ra viện. Theo kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc xác định ông Bùi Tiến Q bị tổn hại 03% sức khỏe.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, lời khai của người bị hại tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.

Xét về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn Đ; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Về tính chất của vụ án là tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa Q. Vì vậy cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Chỉ vì xuất phát từ mâu thuẫn, nguyên cớ nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo rủ nhau sử dụng gạch, cục bê tông ném gây thương tích cho người bị hại thể hiện việc coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và thương tích của người bị hại để xử phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đây là hình phạt trên mức khởi điểm do điều luật quy định là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Xét thấy các tội xâm phạm sức khỏe của con người hiện nay đang ngày càng diễn biến phức tạp, gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa Q. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo nhưng không đưa ra được căn cứ nào cho việc kháng cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Xét việc kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi phạm tội các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T đều là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật; trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi của mình; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người bị hại; các bị cáo đều thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có một phần lỗi do đã dùng gậy tấn công các bị cáo trước; bị cáo Lê Văn T có ông nội là người có công được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét về vai trò, vị trí của các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T trong vụ án thấy: Trong vụ án này, giữa các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T mặc dù không có sự bàn bạc, thống nhất với nhau từ trước nhưng khi xảy ra cãi vã, xô xát giữa Hà và ông Q thì Đ đã tích cực thực hiện hành vi dùng gạch, cục bê tông ném ông Q gây thương tích. Còn đối với Lê Văn T khi thấy Đ ném ông Q thì cũng nhặt gạch, cục bê tông ném ông Q cùng Đ. Như vậy, giữa Đ và Hà đã có sự tiếp nhận ý chí của nhau trong việc cùng thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho ông Q nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm cùng thực hành. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét tính chất mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, các tình tiêt tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét vai trò vị trí của từng bị cáo trong vụ án để xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 07 tháng tù, bị cáo Lê Văn T 06 tháng tù cho hưởng án treo là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do các bị cáo thực hiện. Do vậy không có căn cứ tăng hình phạt đối với các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T nên kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về kháng cáo đề nghị tăng bồi thường của người bị hại Bùi Tiến Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T thực hiện hành vi gây thương tích cho người bị hại trái pháp luật nên phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra. Trong vụ án này các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T gây thương tích làm cho ông Bùi Tiến Q bị tổn hại 03% sức khỏe mà người bị hại Bùi Tiến Q yêu cầu phải bồi thường tổng số tiền là 121.300.000đ là không phù hợp thực tế thiệt hại xảy ra. Toàn bộ những thiệt hại của người bị hại Bùi Văn Q đã được Tòa án cấp sơ thẩm tính toán, xem xét bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe của người bị hại; tiền thu nhận bị mất của người bị hại trong thời gian nằm điều trại tại bệnh viện; tiền mất thu nhập của người chăm sóc người bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện; Ttền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm; tiền bồi dưỡng sức khỏe cho người bị hại; thiệt hại về tài sản (cánh cửa bị hỏng) do hành vi của các bị cáo gây ra với tổng số tiền là 22.956.408đ là hoàn toàn phù hợp với thực tế thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T tự nguyện chấp nhận bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị hại Bùi Tiến Q tổng số tiền là 40.000.000đ. Xét thấy sự nguyện về bồi thường thiệt hại của các bị cáo đối với người bị hại là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn Đ không được chấp nhận phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ và chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại Bùi Tiến Q; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2018/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V.

Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ, Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao Lê Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 589, 590, 357, 468 Bộ luật dân sự. Chấp nhận sự tự nguyện của các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T về việc liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị hại Bùi Tiến Q tổng số tiền là 40.000.000đ, kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường 20.000.000đ.

Xác nhận các bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T đã bồi thường cho bị hại Bùi Tiến Q được số tiền 20.000.000đ (mỗi bị cáo 10.000.000đ) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện V. Do vậy số tiền còn lại bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T mỗi bị cáo phải bồi thường là 10.000.000đ

Kể từ ngày ông Bùi Tiến Q có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Bùi Văn Đ và Lê Văn T không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Bùi Văn Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; người bị hại Bùi Tiến Q không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ