vanban.org

Bản án 70/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chị Trần Thị D kiện yêu cầu ông Trần Thanh B phải trả số tiền 28.800.000 đồng"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2018/DS-ST
Ngày: 09-5-2018
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà han Th im Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Ông Nguyễn Hoàng Tiến

2/- Ông han Hữu Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú – iểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2017/TLST–DS ngày 30 tháng 11 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 37/2018/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ch Trần Th D, sinh năm: 1980 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

B đơn: - Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1978 (vắng mặt).

- Ch Nguyễn Th Bích L, sinh năm: 1979 (vắng mặt).

Cùng cư trú: Tổ A, ấp H, th trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai cùng ngày 06-11-2017, biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày: Vào khoảng tháng 11/2009 ch có cho ch L vay số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) để lo cho gia đình, vợ chồng anh B, ch L cho người khác vay lại để kiếm lời, anh B là người đi cho vay, có thỏa thuận lãi là 70.000đ/1.000.000đ tương đương 7%/tháng, mỗi tháng đóng lãi là 40.000.000đ x 7% = 2.800.000đ và có thỏa thuận thời hạn 1 năm sẽ trả toàn bộ số tiền vốn cho ch . Đến tháng 5/2010 ch L tiếp tục vay thêm của ch số tiền là 5.000.000đ, lãi suất 7%/tháng, mỗi tháng đóng lãi là 7% x 5.000.000đ = 350.000đ và có thỏa thuận thời hạn trả cùng với số nợ 40.000.000đ. Từ khi vay đến nay phía vợ chồng anh B, ch L có đóng lãi cho ch được khoảng 1 năm (khoảng tháng 12/2010), nhưng lâu quá ch không nhớ số tiền cụ thể là bao nhiêu. hi đến hẹn nhưng vợ chồng anh B, ch L không trả nợ nên ch có gửi đơn tại UBND th trấn C, tại buổi hòa giải ch L hứa trả cho ch mỗi tháng 700.000đ đến khi hết nợ, ch L có trả cho ch được 16 tháng x 700.000đ = 11.200.000đ thì ngưng không trả nữa. Tiếp đó ch gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang, ch Loan hứa mỗi tháng sẽ trả cho ch số tiền 500.000đ đến khi hết nợ nên ch làm đơn rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Tòa án đã đình chỉ (theo Quyết đ nh đình chỉ giải quyết vụ án số 78/2014/QĐST-DS ngày 08/5/2014), ch L có trả cho ch được 10 tháng x 500.000đ = 5.000.000đ, lần trả cuối cùng vào ngày 17/7/2017. Như vậy, ch L có trả cho ch tổng cộng số tiền vốn là 16.200.000đ, còn nợ lại số tiền là 28.800.000đ.

Nay ch yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B phải trả cho ch một lần số tiền là 28.800.000đ (hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi.

T i tờ cam kết ngày 18/12/2017 bị đơn chị Nguyễn Thị Bích L trình bày: Ch xác nhận còn thiếu nợ ch Trần Th D và hứa với pháp luật sẽ trả hàng tháng cho ch D theo đúng cam kết mà ch đã hứa, nhưng do kinh tế đang gặp khó khăn, đông lạnh không hoạt động mạnh nên ch đã đi làm ăn xa, công việc ở Đồng Nai cũng phức tạp và nhiều khó khăn hơn và chưa ổn đ nh, qua năm 2018 công việc và tiền lương của ch ổn đ nh và có tăng ca ch xin hứa và cam kết trả tiền cho ch D theo đúng cam kết, ch sẽ trả cho ch D 3 năm cho đến khi trả đủ số nợ mà ch đã thiếu của bà D, khi qua tháng 4/2018 (âm l ch) ch sẽ gửi cho ch D số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) nhưng sẽ gửi về Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang để xác nhận cho ch và chuyển đến tay ch D, nếu ch không thực hiện đúng lời hứa trong tờ cam kết thì ch xin ch u trách nhiệm theo pháp luật.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh B: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án có tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng phía b đơn đều vắng mặt không có lý do, cũng không cung cấp lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh B và ch Nguyễn Th Bích L là b đơn trong vụ kiện đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Thanh B và ch Nguyễn Th Bích L.

Về n i dung vụ án: Ch Trần Th D khởi kiện ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B cùng có nghĩa vụ trả cho ch số tiền vay tổng cộng là 28.800.000đ (hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng). Tuy phía ch L, anh B đều vắng mặt tại phiên tòa, song căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn cung cấp như biên bản hòa giải ngày 26/9/2012 của UBND th trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, ch L trình bày: “Tôi thừa nhận có vay tiền của bà D số tiền 45.000.000đ, hiện nay do hoàn cảnh khó khăn nên không có khả năng trả 1 lần, tôi cam kết mỗi tháng sẽ trả 700.000đ cho đến khi hết số tiền 45.000.000đ. Thời gian trả bắt đầu tính từ ngày 13/10/2012” và tại tờ cam kết ngày 18/12/2017 ch L cũng thừa nhận có nợ ch D và hứa trả đúng theo cam kết….Điều này cho thấy hợp đồng vay tài sản giữa ch D và ch L thực tế có xảy ra, theo ch D trình bày qua nhiều lần trả mỗi tháng 700.000đ, sau đó 500.000đ/tháng ch L và anh B đã trả được 16.200.000đ còn nợ lại 28.800.000đ chưa thanh toán và ch có cung cấp được sổ ghi lại các lần trả, ngày tháng trả…Tuy anh B là chồng của ch L không có ký tên vào các giấy tờ vay tiền, nhưng theo ch D trình bày anh B biết việc ch L vay tiền, do anh B không biết chữ, nên không ký tên, số tiền ch L vay được dùng để lo cho gia đình, cho người khác vay lại kiếm lời, anh B là người đi cho vay, sau khi ch L vở nợ bỏ đi thì anh B hứa bán được nhà sẽ trả cho ch , nhưng khi bán được nhà thì không trả. Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2018 ông Nguyễn Minh T cho biết anh Nguyễn Thanh B không biết chữ là phù hợp với lời khai của ch D.

Từ những chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở xác đ nh ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B có vay tiền của ch D là thật và hiện còn nợ 28.800.000 đồng, do đó trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở nên được chấp nhận.

Xét thấy, trong mối quan hệ vay nợ này phía b đơn là người có lỗi, vì không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là trả vốn và lãi đúng đ nh kỳ. Việc vi phạm này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía nguyên đơn. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc ch L, anh B phải có nghĩa vụ trả nợ 1 lần theo yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp.

Về lãi suất: Nguyên đơn trình bày phía b đơn có đóng lãi với lãi suất theo thỏa thuận là 7%/tháng đến cuối tháng 12/2010 thì ngưng không đóng nữa nhưng không nhớ rõ số tiền lãi đã đóng cụ thể là bao nhiêu, nay nguyên đơn chỉ yêu cầu b đơn trả số tiền 28.800.000đ không yêu cầu tính lãi. Xét thấy nếu tính lãi từ khi vay đến nay theo lãi suất quy đ nh của pháp luật thì số tiền lãi cao hơn số tiền b đơn đã đóng, do đó không nên điều chỉnh và chấp nhận yêu cầu nguyên đơn không tính lãi theo hướng có lợi cho b đơn là hoàn toàn phù hợp.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B phải ch u án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Áp dụng: Vào Điều 688 Bộ luật dân sự 2015, các Điều 471, 473, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; Các điều 2266,, 3355,, 3399,, 9911,, 9933,, 9944,, 9999,, 114477,, 222277,, 222288,, 227733 Bộ luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ch Trần Th D.

Buộc ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B có nghĩa vụ trả nợ cho ch Trần Th D số tiền là 28.800.000đ (hai mươi tám triệu tám trăm ngàn đồng).

ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

- Về án phí: Ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B phải ch u 1.440.000đ (một triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ch Trần Th D được hoàn lại 720.000 đồng (bảy trăm hai mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003164 ngày 30/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Ch Trần Th D có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (9/5/2018). Ch Nguyễn Th Bích L và anh Nguyễn Thanh B có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ