vanban.org

Bản án 693/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tiêu Hồng T về việc yêu cầu ly hôn với Bà Lê Kim T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Tiêu Hồng T được ly hôn với Bà Lê Kim T. Giấy chứng nhận kết hôn số 360, quyển số 02/96, do Ủy ban nhân dân Quận 11, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/1996 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tiêu Hồng T về việc yêu cầu ly hôn với Bà Lê Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 693/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 01-12-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 01 tháng 12 năm 2021 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1199/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2020 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021; Thông báo về việc dời lại phiên tòa ngày 23/6/2021 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Tiêu Hồng T, sinh năm 1965.

Địa chỉ: A3/42, ấp M, xã B, huyện B, TP.Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Bà Lê Kim T , sinh năm 1977.

Địa chỉ: A3/42, ấp M, xã B, huyện B, TP.Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn – Ông Tiêu Hồng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà T chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 360, quyển số 02/96, do Ủy ban nhân dân Quận 11, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/1996. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T nợ nần nên tự ý bỏ nhà đi đâu không rõ, đến nay ông T không liên lạc được. Hiện nay, ông T không còn tình cảm với bà T nữa, ông T và bà T không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay ông T thấy mục đích hôn nhân không đạt được, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: có 03 con chung tên Tiêu Quốc T, sinh năm 1996 (đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết); Tiêu Ngọc Phương T, sinh năm 2003 và Tiêu Lam T, sinh năm 2003.

Hiện nay 03 con đang sống chung với ông T tại địa chỉ A3/42, ấp M, xã B, huyện B, TP.HCM.

Ông T yêu cầu trực tiếp nuôi con Tiêu Ngọc Phương T , sinh năm 2003 và Tiêu Lam T ,sinh năm 2003 đến trưởng thành; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con .

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn – Ông T vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Bị đơn – Bà Lê Kim T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Tiêu Hồng T khởi kiện xin ly hôn với Bà Lê Kim T, đây là tranh chấp về ly hôn. Bà Lê Kim T cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Lê Kim Tu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Ông Tiêu Hồng T vắng mặt tại phiên tòa có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bà Lê Kim T, Ông Tiêu Hồng T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Tiêu Hồng T và Bà Lê Kim T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 360, quyển số 02/96, do Ủy ban nhân dân Quận 11, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/1996. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Ông Tiêu Hồng T và Bà Lê Kim T là vợ chồng hợp pháp.

Theo Ông Tiêu Hồng T xác định: Hiện nay, ông T không còn tình cảm với bà T nữa, ông T và bà T không còn quan tâm chăm sóc cho nhau.

Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Ông Tiêu Hồng T và Bà Lê Kim T, nhưng bà T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét thấy, ông T không còn tình cảm với bà T nữa, ông T và bà T không còn quan tâm chăm sóc cho nhau là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Tiêu Hồng T về việc yêu cầu ly hôn với Bà Lê Kim T.

Về con chung: có 03 con chung tên Tiêu Quốc T, sinh năm 1996 (đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết); Tiêu Ngọc Phương T, sinh năm 2003 và Tiêu Lam T, sinh năm 2003.

Ông T xác định: hiện nay 03 con đang sống chung với ông T tại địa chỉ A3/42 ấp M, xã B, huyện B, TP. HCM.

Xét quyền lợi về mọi mặt của con, hiện nay con Tiêu Ngọc Phương T và Tiêu Lam T đang sống chung với ông T. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu trực tiếp nuôi con chung tên Tiêu Ngọc Phương T, sinh năm 2003 và Tiêu Lam T, sinh năm 2003 đến trưởng thành. Ghi nhận việc ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tiêu Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Ông Tiêu Hồng T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/00080419 ngày 11/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Ông Tiêu Hồng T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tiêu Hồng T về việc yêu cầu ly hôn với Bà Lê Kim T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Tiêu Hồng T được ly hôn với Bà Lê Kim T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 360, quyển số 02/96, do Ủy ban nhân dân Quận 11, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 15/8/1996 không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: có 03 con chung tên Tiêu Quốc T, sinh năm 1996 (đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tiêu Ngọc Phương T, sinh ngày 06/12/2003 và Tiêu Lam T, sinh ngày 06/12/2003.

Giao con Tiêu Ngọc Phương T, sinh ngày 06/12/2003 và Tiêu Lam T, sinh ngày 06/12/2003 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ghi nhận việc ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được quyền cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

1.4. Về nợ chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Tiêu Hồng T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Ông Tiêu Hồng T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/00080419 ngày 11/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Ông Tiêu Hồng T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ