- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 692/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/07/2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Văn Rỹ 2. Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 07 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 418/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 04 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 06 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Bà Nguyễn Hoàng Anh M; địa chỉ: đường L, Phường T, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Cao Giang S; địa chỉ: đường A, Phường Y, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Nguyễn Hoàng Anh M trình bày: Bà và ông Cao Giang S tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn bắt đầu từ ngày 06/09/2016 nguyên nhân do không hợp nhau và không có tiếng nói chung nên vợ chồng đã ly thân. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung thì có một con tên Cao Bảo N, sinh ngày 14/08/2008 đang sống chung với bà nên bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con; Về việc chia tài sản chung thì bà không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Cao Giang S đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện về tranh chấp ly hôn; bị đơn đang cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt nên phiên tòa tiến hành theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 152 quyến số 01/2006 ngày 15/12/2006 của Ủy ban nhân dân phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Hoàng Anh M và ông Cao Giang S có quan hệ vợ chồng. Tuy mâu thuẫn vợ chồng chỉ căn cứ vào lời khai của bà M nhưng có cơ sở cho rằng mâu thuẫn của vợ chồng là có thật vì hai người đang phải sống ly thân; ông S thì không đến Tòa án để trình bày rõ sự việc mâu thuẫn của vợ chồng, cho thấy ông S không quan tâm kết quả giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn.
Về yêu cầu trực tiếp nuôi con của nguyên đơn:
Căn cứ bản sao trích lục khai sinh thì bà M và ông S có một con tên Cao Bảo N, sinh ngày 14/08/2008. Xét thấy, con chung đang sống chung với bà M và nguyện vọng của con là được sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về việc cấp dưỡng cho con: Theo quy định, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Nhưng do bà Nguyễn Hoàng Anh M chưa có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về việc chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí Tòa án: Bà Nguyễn Hoàng Anh M là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn.
Bà Nguyễn Hoàng Anh M được ly hôn ông Cao Giang S.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Hoàng Anh M với ông Cao Giang S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 152 quyển số 01/2006 ngày 15/12/2006 của Ủy ban nhân dân Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)
2. Về việc nuôi con chung:
Bà Nguyễn Hoàng Anh M được trực tiếp nuôi con tên Cao Bảo N, sinh ngày 14/08/2008; ông Cao Giang S chưa phải cấp dưỡng cho con.
Ông Cao Giang S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con, không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng cho con.
3. Về việc chia tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí Tòa án:
Bà Nguyễn Hoàng Anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0002844 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 8; bà Nguyễn Hoàng Anh M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bên được thi hành án dân sự, bên phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - UBND Phường 4, quận 8; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Minh Hoàng HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN |