- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp vay tài sản giữa ông M bà L"
- Tòa quyết gì? 6 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 9 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69 /DSST Ngày: 27/12/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi tiền biêu” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Đồng Tịnh
2. Ông Nguyễn Kim Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phương Dung - Cán bộ Toà án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S: Bà Trần Thị Hương Thu – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 164A
T T-D ngày tháng năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi tiền biêu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2023 QĐ T-DS ngày 21/11/2023 và quyết định hoãn số 4 ngày
.
Nguyên đơn: Ông Lã Xuân M (tên gọi khác: Mƣời) - sinh năm: 1970 –Trú tại:
đường M, tổ phường H, quận H, Đà Nẵng. Có mặt
Bị đơn: Bà Lê Thị Kim L – sinh năm: 976; Trú tại phòng 5 , tầng 5 chung cư T, đường B, tổ 4 phường N, quận S, Đà Nẵng. Có mặt
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Diệu L – sinh năm: 1970 –Trú tại: đường M, tổ phường H, quận H, Đà Nẵng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/06/2023; bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Lã Xuân M trình bày:
Ngày 06/02/2023 ông M lập một dây biêu gồm người chơi biêu, bà L tham gia hai chân biêu, chân biêu đóng 4 . đồng ngày, bà L chơi chân nên đóng 800.000/ngày tương đương 4. . đồng tháng. Bà L đã nhận được tiền biêu là 88. . đồng. Bà L đã đóng được 4 tháng tương đương với số tiền 96. . đồng. Hình thức đóng tiền biêu bằng chuyển khoản qua tài khoản của ông M và nộp tiền mặt cho bà (vợ ông M). Từ tháng 6
bà L không nộp biêu, tổng số tiền bà L còn nợ biêu cho 8 tháng còn lại là 9 . . đồng.
Trong năm
, bà L nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông M từ 5 . . đồng –
. . đồng và sau đó cũng đã nhiều lần trả tiền. cụ thể ngày 5
vay 5 triệu đồng, ngày 5
vay 5 triệu đồng, ngày
vay
. . đồng. (Trong đó số tiền bà L thực tế còn nợ là . . đồng ký tháng
và 5 triệu đồng nợ tháng
). Các giấy vay tiền không thỏa thuận về lãi nhưng thực tế có thỏa thuận miệng với nhau, bà L mới chỉ đóng tháng tiền lãi sau đó không trả nữa. Từ đó đến nay số tiền nợ này bà L mới trả được . .
đồng, còn nợ lại là 47. . đồng. Như vậy, số tiền biêu mà bà L nợ là 9 . . đồng và tiền nợ là 47. . đồng. Tổng cộng tiền bà L còn nợ là 9. . đồng. Ông M xác định khoản tiền cho bà L nợ là tiền chung của vợ chồng ông M. Việc ông M cho bà L tham gia dây biêu và việc bà L cho bà L mượn tiền có viết giấy thì ông M đều biết vì ông M là người trực tiếp giao tiền cho bà L. Ông M nhiều lần đến nhà yêu cầu bà L đóng tiền biêu và trả nợ nhưng bà L không trả mặc dù bà L có nhà, có xe nhưng không chịu bán để trả nợ mà và còn thách ông M đi kiện. Tại đơn khởi kiện ông M yêu cầu bà L trả cho ông M số tiền 9. . đồng. Tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa, ông M yêu cầu bà L trả cho vợ chồng ông M một lần toàn bộ số tiền 9. . đồng, không yêu cầu tính lãi do số tiền cho vay và tham gia biêu đều là tiền chung của vợ chồng. Ngoài những khoản nợ này thì bà L không còn nợ khoản nợ nào khác
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và phiên tòa hôm nay bị đơn bà Lê Thị Kim L trình bày:
Bà L và vợ chồng ông M đã làm ăn với nhau mấy năm, vào đầu năm
bà L có chân biêu do ông M là chủ biêu, mỗi người chơi đóng . . đồng tháng. Bà L tham gia 2 chân biêu đóng tiền biêu hàng tháng là 4. . đồng, bà L đã đóng được 4 tháng với số tiền 96. . đồng. Đến tháng 6/2023 bà L chưa đóng tiền vì những người vay nợ chưa trả tiền cho bà. Bà L đưa tiền mỗi ngày cho chị inh ở ngoài chợ hoặc chuyển khoản cho ông M với số tiền 8 . đồng/ ngày. ố tiền nợ biêu còn nợ của 8 tháng là 9 . . đồng.
Bà L có mượn ông M, bà L số tiền 5 . . đồng, bà L có viết giấy và ký xác nhận, ông M là người giao tiền cho bà L. Từ khi vay đến nay bà L đã trả được . . đồng tiền gốc và trả được 4 tháng tiền lãi mỗi tháng là 7.5 . đồng. Bà L xác định hiện nay có nợ ông M, bà L 339. . đồng, trong đó 9 triệu đồng tiền biêu và 47 triệu đồng tiền vay. Nay bà xin trả mỗi tháng . . đồng cho đến khi hết nợ. Bà L xác định ngoài những khoản nợ này thì bà L không còn nợ khoản nợ nào khác
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diệu Linh trình bày:
Do có mối quan hệ làm ăn ở chợ Tăng Bạt Hổ nên bà L có nhiều lần vay tiền của vợ chồng bà L số tiền từ 5 . . đồng – 100.000.0 đồng, mỗi lần vay lại đều ghi giấy nợ. Bà L cũng nhiều lần trả số tiền này và sau đó lại tiếp tục vay lại. ố tiền bà L còn nợ là 5 . . đồng có ghi giấy tờ do bà L viết, ký nhận. Hai bên không thỏa thuận về tiền lãi nhưng có thỏa thuận bằng miệng. Bà L mới trả được tháng tiền lãi, mỗi tháng trả được 7.5 . đồng, sau đó bà L không trả nợ lãi và tiền gốc nữa. ố tiền bà L vay 5 . . đồng thì bà L xin trả dần mỗi tháng . . đồng, thực tế vào tháng 03/2023 bà L đã trả tháng được . . đồng. ố tiền còn nợ lại là 47. . đồng. Bà L xác định tiền cho bà L vay là tiền chung của vợ chồng bà L, ông M là người trực tiếp giao tiền cho bà L mỗi lần bà L vay tiền.
Đối với việc chơi biêu: Ông M đứng ra lập dây biêu thì bà L biết, bà L tham gia 2 chân biêu và bà L là người đi thu tiền biêu mỗi ngày cho ông M và số tiền chơi biêu này cũng là tiền chung của vợ chồng bà L. Nay ông M yêu cầu bà L trả số tiền biêu là 9 . . đồng và tiền nợ là 47. . đồng cho vợ chồng bà. Bà L thống nhất và đề nghị bà L phải trả một lần tổng số tiền là 9. . đồng. Ngoài những khoản nợ này thì bà L không còn nợ khoản nợ khác
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S phát biểu về sự tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự. Theo đó: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ khâu thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ và mở phiên tòa xét xử. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng.
Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 280, Điều 46 , Điều 466, điều 469, điều 47 Bộ luật dân sự 5
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Kiện đòi tiền vay và đòi tiền biêu” của ông Lã Xuân M đối với bà ê Thị Kim .
Buộc bà ê Thị Kim phải trả cho ông ã Xuân M và bà Nguyễn Thị Diệu một lần toàn bộ số tiền nợ và tiền biêu 9. . đồng.
Về tiền lãi: Ông M không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp kiện đòi tiền và đòi tiền biêu giữa nguyên đơn ông Lã Xuân M với bị đơn bà ê Thị Kim thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản Điều 6, điểm a khoản Điều 5 và điểm a khoản Điều 9 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
Đối với việc tham gia chơi biêu: Ngày 06/02/2023 ông M lập một dây biêu gồm
người chơi biêu, bà L xin tham gia 2 chân biêu, ngày đóng 4 . đồng 1 chân, bà L tham gia chân nên phải đóng 8 . ngày tương đương 4. . đồng tháng. Bà L hốt hai tháng đầu tiên nhận được tiền biêu là 88. . đồng. au đó bà L đã đóng được 4 tháng biêu với số tiền 96. . đồng. Hình thức đóng tiền biêu bằng chuyển khoản qua tài khoản của ông M và nộp tiền mặt cho bà (vợ ông M). Từ tháng 6/2023 bà L không nộp biêu, tổng số tiền bà L còn nợ biêu cho 8 tháng còn lại là 9 . . đồng.
Đối với việc vay tiền: Trong năm
, bà L nhiều lần vay tiền của vợ chồng ông M từ 5 . . đồng –
. . đồng và sau đó cũng đã nhiều lần trả tiền, các giấy vay tiền bà L viết và ký xác nhận. ố tiền bà L thực tế còn nợ là 150.000.000 đồng. Trong các giấy vay tiền không thỏa thuận về lãi nhưng thực tế có thỏa thuận miệng với nhau, bà L mới chỉ đóng tháng tiền lãi sau đó không trả nữa. Từ đó đến nay số tiền nợ này bà L mới trả được . .
đồng tiền gốc, số tiền vay còn nợ lại là 47. . đồng.
Tại phiên tòa, ông M yêu cầu bà L trả cho ông M, bà L một lần toàn bộ số tiền 339. . đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà L thống nhất yêu cầu khởi kiện của ông M. Còn bà L xác nhận có nợ ông M, bà L số tiền là 9. . đồng và xin trả dần mỗi tháng . . đồng cho đến khi hết nợ. Các bên đương sự đều xác định ngoài những khoản nợ này thì bà L không còn nợ khoản vay nào khác của vợ chồng ông M.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Việc vay tiền, tham gia chơi biêu giữa ông Lã Xuân M, bà Nguyễn Thị Diệu và bà ê Thị Kim là có thật và hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc tham gia dây biêu và các giấy vay tiền đã ký kết. Căn cứ theo giấy vay tiền trên đều có đầy đủ chữ ký, chữ viết của bà L và việc bà L xác nhận có tham gia chơi biêu và chuyển khoản biêu hàng ngày của bà L cho ông M cũng như nộp tiền mặt trực tiếp cho bà (vợ ông M) Đồng thời, tại bản tự khai ngày 04/10/2023 bà L xác nhận còn nợ vợ chồng ông M bà L số tiền vay và tiền biêu là 339.000.000 đồng có thể thấy bà L là bên vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M, bà L. Mặt khác, yêu cầu xin trả dần số nợ trên của bà L không được ông M, bà L chấp nhận. Do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc bà ê Thị Kim phải trả một lần cho ông M, bà L số tiền 339.000.000 đồng là có cơ sở và phù hợp với Điều 8 , 46 , 466 Bộ luật dân sự.
Về tiền lãi: Trong suốt quá trình giải quyết vu án và tại phiên tòa hôm nay, ông M không yêu cầu tính tiền lãi do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông Lã Xuân M được chấp nhận nên bà ê Thị Kim phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật trên số tiền 339.000.000 đồng còn nợ ông M là: 5% x 339.000.000 = 16.950.000 đồng
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản Điều 6; điểm a khoản Điều 5; điểm a khoản Điều 9 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 8 ; Điều 463, khoản Điều 466, khoản 1 Điều 469, Điều 47 của Bộ luật dân sự 5;
- Căn cứ Điều 6 Nghị quyết số 6 6 UBTVQH 4 ngày tháng năm
6 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và đòi tiền biêu” của ông Lã Xuân M đối với bà ê Thị Kim .
Xử:
1.Buộc bà Lê Thị Kim L phải trả một lần cho ông Lã Xuân M và bà Nguyễn Thị Diệu L số tiền 339.000.000 đồng (Ba trăm ba mƣơi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiềncòn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 5.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 16.950.000đ (Mười sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) bà ê Thị Kim phải chịu.
Hoàn trả cho ông Lã Xuân M số tiền tạm ứng án phí 8.55 . đồng ông M đã nộp theo biên lai thu số 0006744 ngày 02/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng.
3. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều uật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
uật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VK ND quận ơn Trà; - Chi cục THA dân sự quận ơn Trà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hạnh |