vanban.org

Bản án 69/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Bé B được ly hôn với anh Danh Công M.

Về con chung: Giao cháu Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và cháu Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023 cho chị D Bé Ba được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, cháu M1 cũng có nguyện vọng muốn sống với chị B. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Danh Bé B - Danh Công M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Bé B được ly hôn với anh Danh Công M.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHẬN DÂN
KHU VỰC 5 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12-3-2026
V/v: “Tranh chấp về ly hôn và yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hoàng Mến;

2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang (cơ sở 2), đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 502/2025/TLST-HNGĐ, ngày 15/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2026/QĐST-HNGĐ ngày 24/02/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Danh Bé B - sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ I, khu phố X, xã K, tỉnh A.

2. Bị đơn: Anh Danh Công M - sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/12/2025 của nguyên đơn chị D Bé Ba trình bày: Tôi và anh Danh Công M có tìm hiểu nhau trước được 2 năm nên đến năm 2014 chúng tôi cha mẹ hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh K (cũ) vào ngày 03/6/2015.

Sau khi kết hôn chúng tôi sống hạnh phúc được 7 năm thì vợ chồng tôi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng sống không hợp, bất đồng quan điểm và anh M ăn chơi, không lo cho vợ nên vợ chồng tôi thường xuyên cải vã rồi anh M bỏ nhà đi từ năm 2024 đến nay, từ đó tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chúng tôi đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Nay xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được nữa, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chồng tôi là Danh Công M.

Về con chung: Tôi xác định có 02 người con chung tên Danh Thị Ngọc M1

- sinh ngày 30/5/2016 và Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tôi xác định vợ chồng không có tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tôi xác định vợ chồng không có thiếu nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về hôn nhân: Tôi xin được ly hôn với chồng tôi là Danh Công M.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 người con chung tên Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023, hiện nay con đang sống với tôi nên tôi yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Như trình bày trên tôi không yêu cầu thêm gì.

Đối với anh Danh Công M trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh M nhiều lần nhưng anh vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn bị đơn đã được thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do là không tuân thủ quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D Bé Ba được ly hôn với anh Danh Công M. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và cháu Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023 cho chị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, cháu M1 cũng có nguyện vọng muốn sống với chị B. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét. Về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Danh Bé B và anh Danh Công M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Danh Bé B là nguyên đơn và anh Danh Công M là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng chị B có đơn xin xét xử vắng mặt còn anh M được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng tại nơi anh có hộ khẩu thường trú theo quy định của pháp luật nhưng anh không có mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điêu 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Danh Bé B và anh Danh Công M là phù hợp.

Về hôn nhân: Chị Danh Bé B và anh Danh Công M kết hôn với nhau vào năm 2014, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh K (cũ) vào ngày 03/6/2015 cho nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Dù hôn nhân của chị Danh Bé B và anh Danh Công M là hôn nhân tự nguyện nhưng trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu nhau trước nhưng anh chị chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau, vì vậy khi xác lập cuộc sống chung vợ chồng thì lại bộc lộ ra những cá tính không phù hợp. Chị B cho rằng do anh M ăn chơi, không lo cho vợ nên vợ chồng thường xuyên cải vã rồi anh M bỏ nhà đi từ năm 2024 đến nay, từ đó tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh chị đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Do đó, ngày 16/01/2026 và ngày 02/02/2026 Tòa án đã tiến hành hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng anh chị đoàn tụ nhưng anh M không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh M. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2024 đến nay và chị B cũng tỏ rõ thái độ không còn tình cảm và yêu thương anh M nữa nên cương quyết xin ly hôn với anh. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn của anh chị đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D Bé Ba.

Đối với anh Danh Công M, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương trực tiếp đến nhà anh M tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh M không có mặt tại Tòa án để làm các văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của anh. Từ đó, cho thấy anh M đã biết được nội dung yêu cầu xin ly hôn của chị B. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt anh Danh Công M theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Danh Bé Ba xác định chị và anh Danh Công M có 02 người con chung tên Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023, hiện nay con đang sống với chị B nên chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị Ba K yêu cầu anh Mới P cấp dưỡng nuôi con.

Xét về yêu cầu nuôi con của chị D Bé B thấy rằng: Chị Danh Bé Ba và anh Danh Công M sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nên anh M đã đã bỏ nhà đi từ năm 2024 đến nay thì chị Ba K biết anh M đi đâu, không liên lạc được nên chị B tự lo chi phí trong cuộc sống, tự trang trải lo cho cháu M1 và cháu M2. Đồng thời, hiện nay cháu M1 và cháu M2 cũng có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường như những đứa trẻ khác còn anh M không quan tâm, không có trách nhiệm lo cho con cùng với chị B mà bỏ nhà đi và cũng không biết đi đâu. Đồng thời, cháu M1 cũng có nguyện vọng muốn sống với chị B. Do đó, HĐXX giao cháu Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và cháu Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023 cho chị D Bé Ba được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Anh Danh Công M có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Danh Bé Ba xác định chị và anh Danh Công M không có tài sản chung và không có thiếu nợ ai nên chị Ba K yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét lời trình bày của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị Danh Bé Ba phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011774, ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, chị Danh Bé B đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Danh Bé B được ly hôn với anh Danh Công M.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thị Ngọc M1 - sinh ngày 30/5/2016 và cháu Danh Thị Ngọc M2 - sinh ngày 06/01/2023 cho chị D Bé Ba được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đồng thời, cháu M1 cũng có nguyện vọng muốn sống với chị B.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Miễn xét.

Anh Danh Công M có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Khi cần thiết, anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là: 300.000 đồng chị D Bé Ba phải nộp do chị có yêu cầu xin ly hôn nhưng chị được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011774, ngày 15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, chị Danh Bé B đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 12/3/2026.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ