vanban.org

Bản án 69/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho anh Đoàn Văn K ly hôn chị Hồ Thị Thu S.

Giao con chung là cháu Đoàn Anh K1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2019, cháu Đoàn Anh K2, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2021 và cháu Đoàn Anh T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2024 cho anh Đoàn Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện 03 con đang sống với anh K. Anh Đoàn Văn K không yêu cầu chị Hồ Thị Thu S cấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Đoàn Văn k, bị đơn Hồ Thị Thu S"
  • Tòa quyết gì? Cho anh Đoàn Văn K ly hôn chị Hồ Thị Thu S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2026/HNGĐ-ST
Ngày 04-6-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Mạnh

2. Ông Nguyễn Đình Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 153/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đoàn Văn K, sinh năm 1996; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn V, xã T, tỉnh Gia Lai; vắng mặt và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hồ Thị Thu S, sinh năm 1996; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Thôn V, xã T, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 8 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đoàn Văn K trình bày: Anh và chị Hồ Thị Thu S quen biết, tìm hiểu một thời gian thì tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 10 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T cũ (nay là xã T, tỉnh Gia Lai). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Trong quá trình sinh sống anh và chị Hồ Thị Thu S mâu thuẫn về kinh tế và do chị S không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc dẫn đến nợ nần nên chị S bỏ đi. Anh đã cố gắng hàn gắn nhưng khoảng cách giữa hai vợ chồng ngày càng lớn dần và không thể cứu vãn. Anh chị sống ly thân từ tháng 07/2025 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bản thân cảm thấy mệt mỏi trong cuộc hôn nhân này nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị S.

Về con chung: Anh và chị S có 03 con chung tên là Đoàn Anh K1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2019, Đoàn Anh K2, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2021 và Đoàn Anh T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2024. Hiện 03 con đang sống với anh. Nếu ly hôn, anh yêu cầu nuôi 03 con và tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ: Anh và chị S không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Hồ Thị Thanh S1 không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cũng như không tham gia tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh K được ly hôn với chị S1, giao 03 con chung cho anh K nuôi. Anh K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Đoàn Văn K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với chị Hồ Thị Thu S là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị S đang cư trú tại xã T, tỉnh Gia Lai nên theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai. [2] Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng chị S vắng mặt không có lý do, anh K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh K, chị S.

Quá trình giải quyết vụ án, chỉ có anh K trình bày ý kiến cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào chứng cứ này để giải quyết.

Về hôn nhân: Anh Đoàn Văn K và chị Hồ Thị Thu S tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 23 tháng 10 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T cũ (nay là xã T, tỉnh Gia Lai) nên hôn nhân giữa anh K, chị S là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của anh K, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh K xin ly hôn vì lý do trong quá trình sinh sống anh và chị Hồ Thị Thu S mâu thuẫn về kinh tế và do chị S không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc dẫn đến nợ nần nên chị S bỏ đi. Anh đã cố gắng hàn gắn nhưng tình trạng hôn nhân không cải thiện. Anh chị sống ly thân từ tháng 7 năm 2025. Quá trình giải quyết vụ án, chị Hồ Thị Thu S không đến Tòa án làm việc, cũng không có ý kiến phản hồi hay biện pháp nào thể hiện thiện chí hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng. Tuy là vợ chồng hợp pháp nhưng anh K và chị S không có tình nghĩa vợ chồng, sống ly thân một thời gian dài. Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho anh K được ly hôn chị S.

Về quan hệ con chung: Anh K và chị S có 03 con chung là cháu Đoàn Anh K1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2019, cháu Đoàn Anh K2, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2021 và cháu Đoàn Anh T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2024. Hiện 03 con đang sống với anh K. Anh K yêu cầu nuôi 03 con. Xét thấy, cháu K1 có nguyện vọng được sống với cha. Cháu T dưới 03 tuổi nhưng vẫn do anh K chăm sóc, nuôi dưỡng và anh K vẫn đảm bảo các điều kiện để 03 con được phát triển bình thường. Tòa án đã tống đạt thông báo Thụ lý vụ án, nên chị S biết việc anh K có nguyện vọng được nuôi các con, kể cả cháu T nhưng chị S không có ý kiến gì. Do đó, áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu K1, cháu K2 và cháu T cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh K không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi 03 con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Anh K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, anh Đoàn Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Cho anh Đoàn Văn K ly hôn chị Hồ Thị Thu S.

2. Giao con chung là cháu Đoàn Anh K1, sinh ngày 04 tháng 01 năm 2019, cháu Đoàn Anh K2, sinh ngày 14 tháng 12 năm 2021 và cháu Đoàn Anh T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 2024 cho anh Đoàn Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện 03 con đang sống với anh K.

Anh Đoàn Văn K không yêu cầu chị Hồ Thị Thu S cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Anh Đoàn Văn K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà anh K đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001827 ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án ,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ