vanban.org

Bản án 69/2025/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 05/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lều Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lều Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/6/2025. Giao bị cáo Lều Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lều Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lều Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HSST
Ngày: 05 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Phụng

2. Ông Nguyễn Thiện Lợi

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Lều Văn H, sinh ngày 10/8/1983 tại T; Nơi cư trú: Thôn T1, xã V, huyện K, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Lều Văn D (đã chết); Họ tên mẹ: Lều Thị D1; Có vợ là Lại Thuỳ L và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2025.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Lưu Thị D2, sinh năm 1980 (đã chết).

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 04, phường P, thành phố T, tỉnh T.

Nơi cư trú: Số nhà 23, ngõ 111, đường L1, tổ 3-4, phường T2, thành phố T, tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Lưu Bá V1, sinh năm 1954 (là bố đẻ chị D2) (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q1, tỉnh T.

- Ông Nguyễn Kỳ A, sinh năm 1976 (là chồng chị D2) (có mặt)

- Chị Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 2002 (là con chị D2) (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 2000 (là con chị D2) (có mặt)

Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 04, phường P, thành phố T, tỉnh T.

Đều cư trú: Số nhà 23, ngõ 111, đường L1, tổ 3-4, phường T2, thành phố T, tỉnh T.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông V1, chị N, anh Đ1 là ông Nguyễn Kỳ A.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Kỳ A: Luật sư Phạm Văn H1 – Văn phòng luật sư 379 – Đoàn luật sư tỉnh T. (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 35-LK5, K2, Khu đô thị 375, phường Q2, thành phố T, tỉnh T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lại Thuỳ L, sinh năm: 1983 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn T1, xã V, huyện K, tỉnh T.

- Cháu Nguyễn Quốc Đ2, sinh năm 2012 (là con chị D2) (vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 04, phường P, thành phố T, tỉnh T.

Nơi cư trú: Số nhà 23, ngõ 111, đường L1, tổ 3-4, phường T2, thành phố T, tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Quốc Đ2 là ông Nguyễn Kỳ A, sinh năm 1976 (bố đẻ cháu Đ2).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Duy T3, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 16, phường T4, thành phố T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 27/02/2025, Lều Văn H (có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia hay chất kích thích mạnh khác) điều khiển xe ô tô Hyundai Elantra, màu trắng, biển số 17A - 457.15 đi từ đường Đ3, phường K1, thành phố T, tỉnh T đến quán nước ở đường Q3 để uống nước. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đến gần khu vực trước cửa Công ty sản xuất và xuất khẩu A1, đường Q3, tổ 08, phường T2, thành phố T, tỉnh T. H điều khiển xe giảm tốc độ, dừng xe trước cổng Công ty sản xuất và xuất khẩu A1, rồi điều khiển xe lùi khoảng 02 mét cho xe đỗ vào lề đường bên phải, trục bánh trước bên phải xe ô tô cách lề đường bên phải 40cm, trục bánh sau bên phải xe cách vỉa hè bên phải 35cm. H tắt máy, tuy nhiên trước khi mở cửa xuống xe do không quan sát phía trước, phía sau, bên trái, không quan sát các phương tiện di chuyển trên đường mà dùng tay phải bấm chốt mở cửa xe bên lái rồi đẩy cửa xe. Khi H vừa bước chân trái xuống đường thì cánh cửa bên lái của xe ô tô đã va chạm với mặt trước tay phanh bên phải và đầu trước ốp nhựa thân xe bên phải của xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu tím, biển số 17AC-025.87 do chị Lưu Thị D2 điều khiển trên đường Q3 hướng từ đê T5 đi đường L1 khiến chị D2 và xe máy điện ngã văng ra đường, rê trượt trên đường. Hậu quả chị Lưu Thị D2 bị rách dập da, trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, lưng, tay và chân, vỡ xương sọ vùng chẩm, chảy máu não phải cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T sau đó chuyển Bệnh viện hữu nghị V2, đến khoảng 20 giờ ngày 28/02/2025 chị D2 tử vong do chấn thương sọ não.

Kết luận giám định số 212/KLGĐTT-KTHS ngày 14/3/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Khám ngoài: Trên tử thi có vết sây sát da, rách dập da đã khâu, trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, lưng, tay và chân. Khám trong: Vỡ xương sọ vùng chẩm, chảy máu não. Kết luận: Nạn nhân Lưu Thị D2 chết do chấn thương sọ não.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Điều kiện thời tiết, ánh sáng: Trời sáng, không mưa, đường khô, ánh sáng tự nhiên đủ điều kiện khám nghiệm hiện trường.

Tình trạng hiện trường: Hiện trường bị xáo trộn từng phần, bà Lưu Thị D2 bị thương được đưa đi cấp cứu, do không đánh dấu lại vị trí nên không thể hiện trong sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm.

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông: Đường Q3 chạy theo hướng L1 - đê T5, bề mặt trải nhựa áp phan thẳng, phẳng rộng 10,50m, tiếp giáp mép đường là vỉa hè dành cho người đi bộ, khu vực hiện trường không có hệ thống biển báo đường bộ, không bị che khuất tầm nhìn. Người và phương tiện tham gia giao thông hoạt động bình thường. Hiện trường vụ tai nạn giao thông trước cửa Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 thuộc địa phận đường Q3, tổ 8, phường T2, thành phố T, tỉnh T.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật: (1) Vết cày dài 2,60m; (2) Xe máy điện biển số 17AC-025.87 đổ nghiêng trái; (3) Vết máu: 0,20 x 0,40m; (4) Xe ô tô biển số 17A-457.15.

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Cột điện số 34 trên vỉa hè đường Q3 hướng đi đường L1 làm chuẩn. Mép đường làm chuẩn: Mép đường Q3 bên phải theo chiều đi hướng đi đường L1 làm chuẩn.

Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

(1) Vết cày: Vết mài trượt kim loại ngắt đoạn có kích thước 2,60m lộ rõ trên bề mặt đường Q3 chạy theo hướng từ đê T5 hướng về đường L1, cuối vết cày tiếp xúc với giá để chân bên trái phía sau của xe máy điện biển số 17AC-025.87, đo từ đầu vết cày này cách mép đường làm chuẩn 5,40m.

(2) Xe máy điện biển số 17AC-025.87 nhãn hiệu Dibao, số loại Pansy S4, màu sơn tím đổ nghiêng trái trên mặt đường Q3, đo từ trục bánh trước xe máy cách mép đường làm chuẩn 6,80m, cách mép đường cơ sở Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 là 0,55m. Đo từ trục bánh sau xe máy cách mép đường làm chuẩn 5,55m, cách mép đường cơ sở Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 là 0,80m.

(3) Vết máu màu đỏ thẫm có kích thước 0,40x0,20m lộ rõ trên bề mặt đường Q3, đo từ tâm vết máu này cách mép đường làm chuẩn 5,80m, cách trục bánh sau xe máy điện biển số 17AC-025.87 là 0,65m.

(4) Xe ô tô biển số 17A-457.15 nhãn hiệu Hyundai, số loại Elantra, màu sơn trắng đỗ trên mặt đường Q3, đầu xe chếch hướng đi đường L1. Đo từ trục bánh sau bên phải xe này cách mép đường làm chuẩn 0,35m, đo từ trục bánh trước bên phải xe này cách mép đường làm chuẩn 0,40m, cách mép đường cơ sở Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 5,50m, đo từ trục bánh trước bên trái xe này cách mép đường Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 5,50m, cách trục bánh trước xe máy điện biển số 17AC-025.87 là 7,40m, cách đầu vết cày 1 là 5,15m.

Đo từ trục bánh sau xe máy điện biển số 17AC-025.87 cách cột điện số 34 trên vỉa hè đường Q3 là 11,20m.

Ngoài những dấu vết phương tiện nêu trên kiểm tra hiện trường chưa phát hiện dấu vết nào khác liên quan đến vụ tai nạn.

Kết quả khám nghiệm phương tiện thể hiện:

Khám nghiệm xe ô tô Hyundai Elantra, màu sơn trắng, biển số 17A-457.15, dấu vết:

Cạnh sau phía ngoài cánh cửa trước bên trái có đám dấu vết bong tróc sơn, cong vênh kim loại hướng sau về trước, phải sang trái, toàn bộ vết đo (14x0,5)cm, cạnh dưới vết cách đất 88cm, trong đó vị trí tâm vết (phần cong vênh kim loại lớn nhất) cách đất 95cm, bề mặt điểm cong rải rác bám dính chất màu nâu.

Cách cạnh dưới vết 1 xuống dưới 43cm, tại cạnh sau phía dưới cánh cửa có đám dấu vết cong vênh, lõm, bề mặt vị trí các điểm cong vênh, bong tróc, trượt xước sơn, hướng sau về trước, phải sang trái, vết đo (12x11)cm, cạnh dưới vết cách đất 39cm.

Hiện tại cánh cửa trước bên trái gãy, tuột thanh hãm gắn giữa cạnh trước cánh cửa và thân xe, 02 thanh bản lề bị cong hướng về trước, đầu trước cánh cửa ép sát vào cạnh sau tai xe.

Kiểm tra cánh cửa trước bên phải khi ở vị trí mở hoàn toàn (hết cỡ) khoảng cách từ đầu ngoài cánh cửa đến khuy khóa trên thân xe là 120cm.

Khám nghiệm xe máy điện nhãn hiệu Dibao pansy S4, màu sơn tím, biển số 17AC-025.87, dấu vết:

Mặt trước tay phanh bên phải có đám dấu vết trượt xước kim loại hướng trước về sau, trái sang phải, bề mặt bám dính chất màu trắng vết đo (7,5x0,7)cm, cạnh bên phải vết nằm trên đầu ngoài bên phải tay phanh, khi tay lái ở vị trí cân bằng cạnh phía dưới vết cách đất 100,5cm, khi đánh hết lái sang trái và sang phải, cạnh dưới vết lần lượt cách đất 108cm và 90cm.

Nứt vỡ đầu trước ốp nhựa thân xe bên phải, toàn bộ vết đo (19x16)cm, hướng trước về sau giáp cạnh trên vết này, bề mặt nhựa bám dính tạp chất màu trắng, cạnh dưới vết cách đất 37cm cách giá để chân sau sang trái 11cm.

Dấu vết bên trái: đầu ngoài tay phanh, mặt ngoài cánh yếm, ốp nhựa thân xe trượt xước, bám dính bột đá, đất cát.

Phiếu đo nồng độ cồn đối với Lều Văn H ngày 27/02/2025 thể hiện kết quả là: 0,000 mg/L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lều Văn H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Lưu Thị D2 số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà Dung đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Bản Cáo trạng số 66/CT-VKSTPTB ngày 12/5/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Lều Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lều Văn H khai nhận toàn bộ hành vi và diễn biến sự việc như đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lại Thuỳ L (vợ bị cáo H) không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã cùng H bồi thường cho gia đình chị D2.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lều Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lều Văn H mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C, số 340118341506 mang tên Lều Văn H do Sở giao thông vận tải T cấp ngày 10/7/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và không tranh luận về các vấn đề khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Kỳ A đồng ý với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, nguyên nhân gây ra tai nạn do lỗi của bị cáo đỗ xe không sát lề đường bên phải, không quan sát phía trước, phía sau, bên trái và diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường, nên khi mở cửa xe ô tô bên ghế lái đã va chạm với xe máy điện do chị Lưu Thị D2 điều khiển. Bị cáo cũng đã nhận trách nhiệm của mình, ăn năn hối cải, do đó đề nghị hội đồng xét xử cân nhắc xem xét theo quy định của pháp luật giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, kết luận giám định tử thi, biên bản khám nghiệm và bản ảnh phương tiện giao thông cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 27/02/2025, tại khu vực đường Q3, trước cửa Công ty sản xuất và xuất khẩu A1 thuộc tổ 08, phường T2, thành phố T, tỉnh T, Lều Văn H điều khiển xe ô tô Hyundai Elantra, màu trắng, biển số 17A - 457.15 dừng, đỗ xe tại bên phải đường theo chiều từ đê T5 đi đường L1 cách lề đường 35 - 40cm. Do H đỗ xe không sát lề đường bên phải, không quan sát phía trước, phía sau, bên trái và diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường, nên khi mở cửa xe ô tô bên ghế lái đã va chạm với mặt trước tay phanh bên phải và đầu trước ốp nhựa thân xe bên phải của xe máy điện nhãn hiệu Dibao, màu sơn tím, biển số 17AC-025.87 do chị Lưu Thị D2 điều khiển trên đường Q3 đi cùng chiều khiến chị D2 và xe máy điện ngã văng ra đường, rê trượt trên đường cách xe ô tô khoảng gần 8 mét, cách mép đường bên phải khoảng 6 mét. Hậu quả chị Lưu Thị D2 bị thương phải cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T sau đó chuyển Bệnh viện hữu nghị V2, đến khoảng 20 giờ ngày 28/02/2025, chị D2 tử vong do chấn thương sọ não.

Hành vi nêu trên của Lều Văn H đã vi phạm các quy định tại: khoản 6 Điều 18 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 về dừng xe, đỗ xe “Trên đường phố, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe sát theo lề đường, vỉa hè phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, vỉa hè quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, khoản 2 Điều 19 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 về mở cửa xe “Trước khi mở cửa xe, người mở cửa phải quan sát phía trước, phía sau và bên phía mở cửa xe, khi thấy an toàn mới được mở cửa xe, ra khỏi xe; không để cửa xe mở nếu không bảo đảm an toàn” gây ra hậu quả làm chị Lưu Thị D2 tử vong, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo đỗ xe không sát lề đường bên phải, không quan sát phía trước, phía sau, bên trái và diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường, nên khi mở cửa xe ô tô bên ghế lái đã va chạm với mặt trước tay phanh bên phải và đầu trước ốp nhựa thân xe bên phải của xe máy điện do chị Lưu Thị D2 điều khiển trên đường Q3 đi cùng chiều dẫn đến chị D2 tử vong. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Lều Văn H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lều Văn H đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000 đồng. Đại diện gia đình chị D2 đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường nào khác nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng, tài sản:

- Đối với chiếc xe ô tô Hyundai Elantra, màu trắng, biển số đăng ký 17A-457.15 do Lều Văn H điều khiển. Quá trình điều tra xác định xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của bị cáo Lều Văn H, bị cáo có đơn xin lại tài sản. Ngày 23/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe ô tô trên cho H.

- Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao pansy màu tím, biển số 17AC-025.87 do chị Lưu Thị D2 điều khiển. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của chị Lưu Thị D2. Đại diện gia đình chị D2 xác định chiếc xe máy điện hư hỏng nhẹ nên không yêu cầu định giá tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và có đơn xin lại tài sản. Ngày 23/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Kỳ A.

Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C, số 340118341506 mang tên Lều Văn H do Sở giao thông vận tải T cấp ngày 10/7/2023.

Về án phí: Bị cáo Lều Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lều Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lều Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/6/2025.

Giao bị cáo Lều Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Lều Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C, số 340118341506 mang tên Lều Văn H do Sở giao thông vận tải T cấp ngày 10/7/2023.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/5/2025).

5. Về án phí: Bị cáo Lều Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ