vanban.org

Bản án 69/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Hồ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 27 tháng 4 năm 2025. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Hồ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HS-ST
Ngày: 26-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Anh;

Ông Huỳnh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai (xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 06/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 08/8/2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 37/TB-TA ngày 12/8/2025 đối với bị cáo:

Hồ Ngọc H, sinh năm 1993 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: khu phố T, phường P, tỉnh Đồng Nai (cũ là khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ B (đã chết) và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1950; bị cáo là con thứ tám trong gia đình có 08 (tám) chị em; đã ly hôn vợ; có 02 (hai) con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 12/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong án phạt tù ngày 19/5/2022. Bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2025, chuyển tạm giam theo Lệnh số 049/LTG-CSMT ngày 04/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực T – Công an tỉnh Đ.

(Bị cáo - có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ ngày 26/4/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an thị trấn T (cũ) nay là xã T tiến hành tuần tra trên địa bàn thị trấn T (cũ) nay là xã T, khi đến đoạn đường nhựa thuộc phố C, thị trấn T (cũ) thì phát hiện Hồ Ngọc H đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 60B5-383.59 có biển hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và đưa về trụ sở Công an làm việc. Quá trình làm việc H khai nhận khi thấy lực lượng Công an, sợ bị phát hiện nên H đã cất giấu 02 (hai) gói ma túy trong đống gạch bên lề đường, sau đó H dẫn lực lượng Công an đến vị trí H cất giấu ma túy tại đống gạch bên lề đường thuộc tổ F, khu phố C, thị trấn T (cũ) rồi lấy trong đống gạch ra 02 (hai) gói ma túy. Công an thị trấn T (cũ), nay là xã T đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong toàn bộ các vật chứng có liên quan để điều tra làm rõ theo quy định.

Ngày 27/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 7761/QĐ-MT gửi Phòng K Công an tỉnh Đ giám định chất ma tuý.

* Tại Kết luận giám định số 728/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 3,7325 gam (ba phẩy bảy ba hai năm gam), loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra đã xác định:

Khoảng 19 giờ ngày 26/4/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hồ Ngọc H đã gọi cho đối tượng “Bờm” hỏi mua ma túy đá với số tiền 1.500.000 đồng, B1 đồng ý bán và hẹn gặp ở chân cầu vượt đường tàu tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai). Sau đó, H đón xe ôm đi đến chân cầu vượt gặp B1 và đưa số tiền 1.500.000 đồng, B1 đưa cho H 02 gói ma túy đá (được đựng trong túi nylon màu vàng). H cất trong túi áo ngực và mang về sử dụng, nhưng khi về gần tới nhà thì có bạn gọi rủ đi nhậu. Sau khi nhậu được một lúc H thấy mệt nên H đi về trước và có mượn xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 60B5- 383.59 của anh Ngô Thanh T (là người trong nhóm bạn nhậu chung) đi về. Khoảng 23 giờ, khi đến đoạn đường thuộc tổ F, ấp C, xã T, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 02 (hai) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, số thuê bao: 0976.123.492.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 60B5- 383.59, số máy JF27E1213501, số khung RLHJF2700BY302865.

* Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKS-KV ngày 05/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo: Khai nhận hành vi đúng như nội dung cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H với mức hình phạt từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 728/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ; tuyên tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, số thuê bao: 0976.123.492.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp biên bản vụ việc, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Vào ngày 26/4/2025 tại khu phố C, thị trấn T (cũ) nay là ấp C, xã T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Hồ Ngọc H có hành vi tàng trữ trái phép 3,7325 gam (ba phẩy bảy ba hai năm gam), loại: Methamphetamine, mục đích sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 19/CT-VKS-KV ngày 05/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai là có cơ sở, đúng người và đúng tội.

[3]. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của người trực tiếp sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác; bị Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự thú với cơ quan Công an về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã ly hôn và là người đang chăm sóc 02 con nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 728/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ.

Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, số thuê bao: 0976.123.492 của bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[6]. Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 60B5- 383.59, số máy JF27E1213501, số khung RLHJF2700BY302865: Bà Võ Thị Thúy H1, sinh năm 1982, đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Bà H1 đã bán xe lại cho anh Ngô Thanh T. Anh T cho bị cáo H mượn xe nhưng không biết bị cáo H dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho anh Ngô Thanh T là đúng quy định.

Đối với người thanh niên tên “Bờm” là người bán ma túy cho bị cáo H, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

[7]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai phù hợp với tài liệu, chứng cứ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Hồ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc H: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 27 tháng 4 năm 2025.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 728/KL-KTHS ngày 30/4/2025 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ.

2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, đã qua sử dụng kèm theo sim có số seri: 8984 04800 09373 61587.

Theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” ngày 07 tháng 8 năm 2025 giữa bên giao là Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và bên nhận là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ