vanban.org

Bản án 69/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S: 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HS-ST
Ngày: 28/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Vương

Bà Phạm Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phước Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 01/10/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HS ngày 06/10/2025 đối với các bị cáo:

Nguyễn Thái S, sinh ngày 14/3/2003, tại Bình Phước (nay là Đồng Nai). Tên gọi khác: không. Số CCCD: 038203025630, cấp ngày 06/4/2021. Nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH. Nơi cư trú: Tổ 2, ấp 2, xã ML, thị xã Ch, tỉnh Bình Phước (nay là Tổ 2, ấp 2, xã N1, tỉnh Đồng Nai).; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Công nhân. Con ông Nguyễn Văn X2, sinh năm 1972 và bà Hà Thị N4, sinh năm 1979. Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2015.Tiền án, tiền sự: không

Ngày 14/3/2025, có hành vi điều khiển xe mô tô gây tai nạn giao thông làm chết 01 người. Đến ngày 18/5/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn Minh H6, sinh năm 1965 (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Lê Thị Ngọc M0, sinh năm 1963 (Vợ ông H6 – có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Nguyễn Minh CN, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường F, Thành phố Hồ Chí Minh) (có đơn yêu cầu vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái S không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14 tháng 3 năm 2025, Sơn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 93P2 - 934.30 (sau đây viết gọn là xe mô tô 93P2 - 934.30) lưu thông trên Quốc lộ 14 hướng từ phường ĐX, tỉnh Đồng Nai (trước đây là thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước) đi phường Ch, tỉnh Đồng Nai (trước đây là thị xã Ch, tỉnh Bình Phước) về nhà tại tổ 2, ấp 2, xã N1, tỉnh Đồng Nai (trước đây là ấp 2, xã ML, thị xã Ch, tỉnh Bình Phước). Sơn điều khiển xe mô tô đi trên làn đường số 02 hướng về xã NB với tốc độ từ 44km/h đến 50km/h. Đến khu vực Km 981+350, Quốc lộ 14 thuộc ấp Minh Lập 1, xã NB, tỉnh Đồng Nai (trước đây là 1, xã ML, thị xã Ch, tỉnh Bình Phước), do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên Sơn đụng vào phía sau ông Nguyễn Minh H6 đi bộ qua đường theo hướng chéo từ lề bên trái sang lề bên phải gây tai nạn giao thông. Sau tai nạn, ông H6 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Phước (thuộc tỉnh Bình Phước trước đây) rồi được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy – thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên ngày 17 tháng 3 năm 2025, ông H6 chết tại Bệnh viện.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xảy ra ngày 14 tháng 3 năm 2025 xác định dấu vết cơ bản dẫn đến vụ tai nạn giao thông như sau:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại KM981 + 350, thuộc ấp Minh Lập 1, xã NB, đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, có hệ thống biển báo, không vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, hệ thống đèn đường chiếu sáng bên trái theo hướng phường ĐX đi phường Ch hoạt động, là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11 mét, ở giữa đường có vạch sơn vàng đứt quãng chia mặt đường thành 02 chiều đường, mỗi chiều đường gồm 02 làn xe chạy, hai bên đường là lề đất rộng 6,0 mét.

Chiều đường từ phường ĐX đi phường Ch: khu vực phía trước hiện trường tại KM 979 + 800 có biển báo DP134 "Hết tốc độ tối đa cho phép 60km/h". Khu vực phía sau hiện trường tại KM 981 + 600 có biển báo R420 "Bắt đầu khu vực đông dân cư". Chiều đường từ phường Ch đi phường ĐX: Khu vực phía trước hiện trường tại KM 981 + 600 có đặt biển số R421 (Biển báo hết khu vực đông dân cư). Khu vực phía sau hiện trường tại KM 979 + 800 có biển báo P127 "Biển báo tốc độ tối đa cho phép 60km/h".

Chọn trụ điện số 461 bên phải Quốc lộ 14 làm điểm mốc và chọn mép nhựa bên phải Quốc lộ 14 làm mép đường chuẩn. Khoảng cách từ điểm mốc đến mép đường chuẩn là 9,0 mét.

- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Vết cày 1 được đánh số 1; Vết máu được đánh số 2; Xe mô tô 93P2 - 934.30 được đánh số 3.

- Vết cày số 1: có kích thước (9,5 x 0,01) mét, nằm bên phải, trên làn đường số 1 và số 2, chiều hướng phường ĐX đi phường Ch chếch vào mép đường chuẩn, có màu trắng, dấu vết cày không liên tục. Đầu vết cày đo đến mép đường chuẩn là 2,15 mét, đến tâm (2) là 4,6 mét, đến điểm mốc là 17,4 mét.

- Vết máu: có kích thước (1,1 x 0,5) mét, nằm bên phải, trên làn đường số 1, vết máu có màu đỏ, dạng đông đặc, quệt. Tâm số vết máu đo đến mép đường chuẩn là 2,5 mét, đo đến đầu tâm trục bánh xe sau bên trái xe mô tô 93P2-934.30 là 4,6 mét.

- Xe mô tô 93P2 - 934.30: nằm bên phải, trên làn đường số 2 và lề đất, ngã qua phải, đầu xe hướng phường Ch, đuôi xe hướng phường ĐX. Đầu tâm trục bánh xe trước bên trái đo đến mép đường chuẩn là 0,2 mét. Đầu tâm trục bánh xe sau bên trái đo đến mép đường chuẩn là 0,3 mét, đến điểm mốc là 23,4 mét.

Tại kết luận giám định tử thi số 284/KL-KTHS, ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (trước đây là Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước) kết luận: Nguyễn Minh H6 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, giập não, tụ máu nội sọ, hôn mê sâu không phục hồi dẫn đến tử vong.

Kết luận giám định số 341/KL-KTHS ngày 26/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

+ Không tìm thấy dấu hiệu bị cắt ghét, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video gửi giám định ký hiệu A

+ Vận tốc xe mô tô di chuyển từ phải qua trái khung hình trước khi va chạm với người đi bộ (thời gian hiển thị trên màn hình lúc 19 giờ 00 phút 08 giây đến 19 giờ 00 phút 09 giây ngày 14/3/2025) là 44 km/h đến 50 km/h.

Từ khi xảy ra tai nạn giao thông và trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Thái S đã khai rõ ràng, thành khẩn.

Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố Nguyễn Thái S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng; Căn cứ tính chất mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b, “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, miễn trách nhiệm cho bị cáo nên đề nghị xem xét cho Nguyễn Thái S được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Nguyễn Thái S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Căn cứ Điều 50, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S: 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Vật chứng thu giữ của vụ án: Không

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây ra tai nạn giao thông, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai đã truy tố và không có tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, thành tâm xin lỗi gia đình bị hại. Hoàn cảnh hiện nay của bị cáo rất khó khăn, nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về phụ giúp mẹ trả nợ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện về thời gian, địa điểm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 14 tháng 3 năm 2025, Sơn điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường Quốc lộ 14 hướng từ phường ĐX đi phường Ch, tỉnh Đồng Nai. Khi đến khu vực ấp Minh Lập 1, xã NB, tỉnh Đồng Nai, do Sơn không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ tại nơi có người đi bộ đang đi qua đường nên đã va chạm với ông Nguyễn Minh H6 đang đi bộ qua đường theo hướng chéo từ lề bên trái sang lề bên phải làm ông H6 bị thương nặng và tử vong sau đó. Bị cáo điều khiển phương tiện giao thông đường bộ khi không có giấy phép lái xe theo quy định đã vi phạm khoản 1, khoản 28 Điều 9 và điểm a khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ của bị cáo dẫn đến tai nạn giao thông là gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người có đủ nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, nhưng thiệt hại do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, làm chết một người. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn gây ra sự đau đớn, mất mát không gì bù đắp được cho gia đình người bị hại. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đồng thời, trước phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình, tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Đại diện gia đình bị hại ông CN đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì khác, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tại phiên tòa bà M0 (vợ bị hại) có mặt, trình bày xin cho bị cáo được bãi nại, nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không thuộc các trường hợp không được cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (có hiệu lực ngày 07/9/2022) và văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025. Vì vậy, cho bị cáo hưởng án treo định thời gian thử thách và giao bị cáo về cho địa phương phối hợp cùng gia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.

Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Đối với vật chứng của vụ án:

Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại: Cho Nguyễn Thái S 01 chiếc xe Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-934.30, số máy E32VE516142, số máy RLCUE3720NY095081 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 93 027772 do Phòng CSGT Công an tỉnh Bình Phước cấp ngày 25/02/2022 mang tên Nguyễn Thái S là tài sản hợp pháp của Sơn đã tạm giữ để điều tra.

Việc xử lý trên của Cơ quan điều tra phù hợp quy định, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Thái S đã tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng. Đại diện bị hại xác nhận đã nhận số tiền trên, không có yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 50; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S: 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời hạn tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thái S cho Ủy ban nhân dân xã NB, tỉnh Đồng Nai quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự; nếu đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được cấp tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ