vanban.org

Bản án 69/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Kim N được ly hôn với anh Lê Chí H. Về con chung: Giao cho anh Lê Chí H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con tên Lê Thảo N, sinh ngày 15/10/2017 và Lê Chí P, sinh ngày 22/01/2020. Chị Nguyễn Kim N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng trong quá trình chung sống"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HNGĐ - ST
Ngày 18 - 8 - 2025
V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Sol

Ông Trần Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2025/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim N - Sinh năm 2000 (Có mặt).

Cư trú: ấp T, xã C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lê Chí H - Sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Cư trú: ấp C, xã C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 21.5.2025 chị Nguyễn Kim N (Nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh H kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/02/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị Nguyễn Kim N và anh Lê Chí H có 02 người con chung tên Lê Thảo N, sinh ngày 15/10/2017 và Lê Chí P, sinh ngày 22/01/2020. Hiện nay hai cháu N, P đang sống chung với anh H. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao hai cháu N, Phúc cho anh H tiếp tục nuôi dương, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Kim N xác định trong thời gian chung sống có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Nguyễn Kim N xác định trong thời gian chung sống chị và anh H không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lê Chí H, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị N nhưng anh H không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh H tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh H vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa anh, chị được.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Chí H tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh H vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hôn nhân: Chị N và anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/02/2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị N và anh H được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại đơn xin vắng mặt, chị N vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh H, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, đã có thời gian sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh H không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị N, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Kim N và anh Lê Chí H có 02 người con chung tên Lê Thảo N, sinh ngày 15/10/2017 và Lê Chí P, sinh ngày 22/01/2020. Hiện nay hai cháu N, Phúc đang sống chung với anh H. Sau khi ly hôn chị đồng ý giao hai cháu N, Phúc cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/7/2025 thì cháu N có nguyện vọng sống chung với anh H. Xét thấy, từ khi chị N và anh H ly thân thì cháu N, P đang sống chung với anh H sức khỏe cũng đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai cháu Lê Thảo N, sinh ngày 15/10/2017 và Lê Chí P, sinh ngày 22/01/2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Kim N xác định trong thời gian chung sống chị và anh H có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Kim N xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Anh H vắng mặt không có ý kiến về con chung, tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim N phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Kim N.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Kim N được ly hôn với anh Lê Chí H.

Về con chung: Giao cho anh Lê Chí H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con tên Lê Thảo N, sinh ngày 15/10/2017 và Lê Chí P, sinh ngày 22/01/2020. Chị Nguyễn Kim N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị Nguyễn Kim N có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019540 ngày 29 – 5 – 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước (Do bà Lê Hằng Ni nộp thay), sau khi đối trừ chị N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Lê Chí H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai chị Nguyễn Kim N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Lê Chí H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ