vanban.org

Bản án 69/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng L, sinh ngày 14/02/2014 cho chị Nguyễn Thị Bé T tiếp tục nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Lê Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 11 - 9 - 2025
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Thới

2. Bà Trần Thị Tuyết Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long.

Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 324/2025/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025, về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1980 (có mặt)

Trú tại: ấp AT, xã AB, tỉnh Vĩnh Long

Địa chỉ cũ: ấp AT, xã AB, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long

2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng P, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Trú tại: ấp AT, xã AB, tỉnh Vĩnh Long

Địa chỉ cũ: ấp AT, xã AB, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé T trình bày:

Chị T và anh Lê Hoàng P sống chung năm 1998, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 02/12/2011. Chị và anh P sống chung với nhau đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anh P thường uống rượu về nhà cự cãi. Đến năm 2019 anh P đi làm xa nhưng thỉnh thoảng vẫn về thăm nhà, từ năm 2024 đến nay anh P không về nhà và cũng không liên lạc gì với chị, mạnh người nào người đó sống, không ai quan tâm gì đến ai, bỏ mặc chị một mình nuôi con và chăm lo gia đình.

Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Lê Hoàng P.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Hoàng Ph, sinh ngày 29/7/1999 và Lê Hoàng L, sinh ngày 14/02/2014. Khi ly hôn chị T yêu cầu nuôi cháu L. Không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi cháu L.

Cháu Ph đã trưởng thành, chị T không yêu cầu giải quyết,

- Về tài sản chung: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết

Bị đơn: anh Lê Hoàng P không có văn bản nêu ý kiến về các yêu cầu của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ly hôn, nuôi con”, do bị đơn hiện đang cư trú tại xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã An Bình, tỉnh Vĩnh Long). Căn cứ vào quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Hoàng P được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 89 quyển 01 ngày 02/12/2011 của Uỷ Ban nhân dân xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bé T và anh Lê Hoàng P là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P đã có nhiều bất hòa, mâu thuẫn trầm trọng, chị T và anh P không sống chung từ năm 2024, nên vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mạnh ai nấy sống, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh P không có văn bản phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Tòa án đã tiến hành hòa giải, nhưng anh P vắng mặt không có lý do, nên không có khả năng hàn gắn. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh P.

Về con chung:

Xét, việc của chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Hoàng L là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Hiện nay do chị T đang nuôi dưỡng; cháu L cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị T. Anh P không có ý kiến gì về việc yêu cầu nuôi cháu L của chị T. Để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần, đồng thời để đảm bảo quyền lợi của trẻ em sau khi ly hôn, nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao Lê Hoàng L, sinh ngày 14/02/2014 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi Lê Hoàng L, nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Bé T phải chịu 300.000đ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, 227 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về về Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng L, sinh ngày 14/02/2014 cho chị Nguyễn Thị Bé T tiếp tục nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi Lê Hoàng L, nên không xem xét.

4. Về tài sản chung: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Bé T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002399 ngày 24/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1-Vĩnh Long); chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bé T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Hoàng P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ