- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam) đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”;
- Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2025/DS-ST Ngày: 31-03-2025 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Sơn
2. Ông Nguyễn Thế Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 627/2024/TLST- DS ngày 02/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-DS ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãnp hiên tòa số 55/2025/QĐST – DS ngày 13/3/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T2 (Việt Nam)
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H - Chức vụ: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần La Ngọc H1 - Chức vụ: Trưởng phòng tố tụng (vắng mặt).
Uỷ quyền tham gia tố tụng cho: Công ty L
Địa chỉ: Số B L, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Cồ Lê H2 - Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T - Nhân viên. (vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1976. (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố P, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T trình bày:
Ngày 18/3/2023, Công ty T2 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là “Công ty T2”) ký Hợp đồng tín dụng số: 4425589 với bà Nguyễn Thị Ngọc T1, có nội dung sau:
- Công ty T2 cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1 số tiền 38.772.000 đồng, trong đó tiền vay gốc 36.000.000 đồng và 2.772.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân;
- Thời hạn vay là 30 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 15/9/2025; thỏa thuận thời hạn thanh toán vào ngày 15 háng tháng. Hình thức vay tín chấp, không có tài sản đảm bảo.
- Mức lãi suất 58%/năm, tương đương 4.83%/ tháng.
Ngoài ra Hợp đồng còn thỏa thuận về phí trả nợ trước hạn, lãi suất tính trên nợ gốc, nợ lãi trong trường hợp không trả hoặc trả không đầy đủ khi đến hạn thanh toán, tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn và lãi suất trên tiền lãi chậm trả. Thực hiện hợp đồng, ngày 20/3/2023 Công ty T2 đã tiến hành giải ngân toàn bộ số tiền vay cho bà Nguyễn Thị Ngọc T1 số tiền 38.772.000 đồng, trong đó tiền vay gốc 36.000.000 đồng và 2.772.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay.
Từ ngày 13/4/2023 đến ngày 18/01/2024 bà Nguyễn Thị Ngọc T1 đã thanh toán cho Công ty T2 được 10 kỳ với tổng số tiền: 26.515.311 đồng. Trong đó tiền gốc là 7.901.339; tiền lãi 18.498.229 và tiền phí là 115.743 đồng. Từ ngày 19/01/2024 bà T1 không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Công ty T2.
Như vậy, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Công ty T2.
Vì vậy, Công ty T2 đã khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc T1 yêu cầu thanh toán đến ngày 03/7/2024 với số tiền nợ còn thiếu là 38.967.706 đồng (gồm tiền gốc, tiền lãi trong hạn chưa thanh toán, tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả).
Sau đó, Công ty T2 yêu cầu bà T1 phải thanh toán tiền nợ đến ngày 31/3/2025 là 56.116.020 đồng. Trong đó: Tiền gốc chưa thanh toán là 30.870.661 đồng; tiền lãi trong hạn là 15.574.122 đồng; tiền lãi quá hạn là 8.641.265 đồng và tiền lãi chậm trả là 1.029.972 đồng.
Ngoài ra, nguyên đơn còn buộc bà M phải tiếp tục thanh toán tiền lãi và các khoản phí phát sinh kể từ ngày 01/4/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay theo thỏa thuận tại Hợp đồng số 4425589.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1:
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Ngọc T1 không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Vì vậy Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng để xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Công ty T2, cụ thể khoản nợ tính đến ngày 31/03/2025 là 56.116.020 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 tiếp tục thanh toán các khoản tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 01/04/2025 cho đến khi Công ty T2 thu hồi hết nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Giấy Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4425589 ngày 17/03/2023 được ký kết giữa Công ty T2 và bà Nguyễn Thị Ngọc T1 với mục đích vay tiêu dùng cá nhân, nay có phát sinh tranh chấp nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 cư trú tại khu phố P, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và trong thời hạn khởi kiện.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
. Nội dung:
. Xét tính pháp lý của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên:
Công ty T2 là một tổ chức tín dụng nên tổ chức và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng. Nên “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 4425589 được ký kết giữa Công ty T2 với bà Đặng Thị M vào ngày 17/3/2023. Hợp đồng tín dụng được ký kết dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái quy định hay vi phạm điều cấm của pháp luật nên có hiệu lực thi hành.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhận thấy trong quá trình thực hiện Hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, như thỏa thuận tại Mục 3.6 Phần B của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 4425589, nghĩa vụ thanh toán các kỳ bị vi phạm thể hiện cụ thể tại báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng do Công ty T2 lập ngày 04/7/2024 và ngày 31/3/2025.
Xét mức lãi suất nợ trong hạn thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 4425589, thì thấy:
Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và khoản 1, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.”.
Do đó, mức lãi suất 4.83%/tháng, (58%/năm), thỏa thuận tại Mục 3.7 của “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 4425589 là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn được 10 kỳ, vào các ngày 13/4/2023; 15/5/2023; 15/6/2023; 15/7/2023; 16/8/2023; 17/9/2023; 15/10/2023 và 15/11/2023; 15/12/2023 và 18/01/2024. Tổng số tiền đã thanh toán là 26.515.311 đồng. Trong đó tiền gốc là 7.901.339; tiền lãi 18.498.229 và tiền phí là 115.743 đồng.
Như vậy, số tiền nợ gốc và nợ lãi trong hạn bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là:
- Tiền nợ gốc 38.772.000 đồng – 7.901.339 đồng = 30.870.661 đồng.
- Số tiền lãi trong hạn bị đơn còn nợ nguyên đơn theo thỏa thuận của hợp đồng từ ngày 19/01/2024 đến ngày 31/3/2025 là 15.574.122 đồng.
Đối với số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn:
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu lãi suất quá hạn là 150% (tính trên lãi suất năm, số dư nợ gốc phải góp mỗi kỳ chưa trả và số ngày trễ hạn) theo thỏa thuận tại Mục 8.3 Phần B Hợp đồng tín dụng.
Căn cứ báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng do nguyên đơn cung cấp nhận thấy từ ngày 19/01/2024 đến ngày 31/3/2025, các khoản nợ gốc phải góp mỗi kỳ mà bị đơn chưa trả đã được chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 31/3/2025, tổng số tiền lãi quá hạn trên số dư nợ gốc bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là 8.641.265 đồng.
Đối với số tiền lãi chậm trả:
Như đã phân tích tại Mục [2.2.1], tính đến ngày 31/3/2025 bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền lãi góp của 10 kỳ là 18.498.229 đồng, còn lại 15 kỳ chưa thanh toán. Do đó bị đơn phải chịu lãi chậm trả là 10% (tính trên số dư lãi chậm trả và số ngày trễ hạn) theo thỏa thuận tại Mục 8.3 Phần B Hợp đồng tín dụng.
Căn cứ báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng do nguyên đơn cung cấp, tính đến ngày 31/3/2025, tổng số tiền lãi chậm trả trên số tiền lãi góp của 15 kỳ bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là 1.029.972 đồng.
Từ những nhận định trên, xét thấy các khoản tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán do vi phạm nghĩa vụ là phù hợp với thỏa thuận giữa các bên. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn các khoản tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 4425589, cần buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải thanh toán cho Công ty T2 số tiền nợ tính đến ngày 31/03/2025 là 56.116.020 đồng, trong đó: nợ gốc: 30.870.661 đồng; nợ lãi trong hạn: 15.574.122 đồng; nợ lãi quá hạn: 8.641.265 đồng; lãi phạt: 1.029.972 đồng
. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn Nguyễn Thị Ngọc T1 đóng án phí dân sự sơ thẩm là 56.116.020 đồng x 5% = 2.805.801 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam) đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T1 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”;
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T1 thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) số tiền nợ tính đến ngày 31/03/2025 là 56.116.020đ (Năm mươi sáu triệu, một trăm mười sáu ngàn, không trăm hai mươi đồng), trong đó tiền nợ gốc là 30.870.661đ (Ba mươi triệu, tám trăm bảy mươi ngàn, sáu trăm sáu mươi mốt đồng); nợ lãi trong hạn là 15.574.122 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm bảy mươi bốn ngàn, một trăm hai mươi hai đồng); nợ lãi quá hạn là 8.641.265đ (Tám triệu, sáu trăm bốn mươi mốt ngàn, hai trăm sáu mươi lăm đồng) và nợ lãi chậm trả là 1.029.972đ (Một triệu, không trăm hai mươi chín ngàn, chín trăm bảy mươi hai đồng).
Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi và phí phát sinh kể từ ngày 01/4/2025 theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 4425589 ngày 17/3/2023 cho đến khi Công ty T2 (Việt Nam) thu hồi hết nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải nộp số tiền 2.805.801đ (Hai triệu, tám trăm lẻ năm ngàn, tám trăm lẻ một đồng).
H3 lại cho Công ty T2 (Việt Nam) số tiền 974.000đ (Chín trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004145 ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ (Nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
3. Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. (Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND thành phố Phú Mỹ; - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thường |