- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2024/HS-ST Ngày: 10-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Minh Tân; bà Nguyễn Thị Kim Chung.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở nhà Văn hoá tổ dân phố số 10, phường Hạ L, thành phố N. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 20-3-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 27-3-2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn H - Sinh năm 1991; căn cước công dân số: 03609102455; nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm T, xã L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Trần Văn T, con bà: Cao Thị M; gia đình có 02 anh em, vợ: Nguyễn Thị Hải Y (Đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27-12-2023; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 27-12-2023, Tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 680 đường Giải Phóng, phường Văn Miếu, thành phố N phát hiện Trần Văn H điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-21008 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. H thả từ tay trái xuống đất 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn H. Ngoài ra, tạm giữ của H 01 chiếc xe máy biển kiểm soát B1-21008 và 01 chiếc điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ Nokia, đều đã cũ.
Bản Kết luận giám định số 159/KL-KTHS ngày 29-12-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,145 gam.
Tại Cơ quan Điều tra, Trần Văn H khai nhận: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 27-12-2023, H điều khiển xe máy biển kiểm soát B1-21008 từ nhà đến khu vực ngã tư đường Văn Cao - Giải Phóng - Song Hào thuộc phường Văn Miếu, thành phố N gặp một người đàn ông tên L (Không biết lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng Heroine, người đàn ông nhận tiền và hẹn H vào trong ngõ 680 đường Giải Phóng, phường Văn Miếu, thành phố N lấy ma túy. H điều khiển xe đến chỗ hẹn, L đưa cho H gói Heroine. H cầm gói Heroine trong tay trái rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ; L đi đâu H không biết.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tiến hành rà soát đối tượng bán ma túy tên L ở khu vực ngã tư đường Văn Cao - Giải Phóng - Song Hào, phường Văn Miếu, thành phố N. Kết quả: Không xác định được người nào tên L nên Cơ quan Điều tra tách ra, xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-TPNĐ ngày 20-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; mẹ bị cáo là bà (Cao Thị Mai) có nộp Quyết Định xuất ngũ của Trần Văn H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời giam tham gia quân ngũ. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo; 01 chiếc điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ Nokia, đã cũ, bị cáo sử dụng liên lạc với đối tượng L để mua ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 27-12-2023, tại khu vực đầu ngõ 680 đường Giải Phóng, phường Văn Miếu, thành phố N Trần Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,145 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Các tình tiết Hội đồng xét xử xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Văn H không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 159/KL-KTHS ngày 29-12-2023 là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ Nokia là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo dùng liên lạc với đối tượng L để mua ma tuý, là công cụ phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Chiếc xe máy biển kiểm soát B1-21008 là tài sản của bà Cao Thị Mai (Mẹ đẻ H), bà Mai không biết H mượn xe đi đâu, làm gì nên Cơ quan Điều tra đã trả lại xe cho bà Mai là đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Trần Văn H hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2023.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ số ma túy trong phong bì niêm phong số 159/KL-KTHS ngày 29-12-2023.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động màu đen, mặt trước có chữ Nokia.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-3-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Án phí hình sự sơ thẩm:
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Bị cáo Trần Văn H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án ND.Tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát NDTP.N (02 bản); - Công an TP.N; - Chi cục Thi hành án dân sự TP.N; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |