vanban.org

Bản án 69/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 03/07/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Mai Thị M.

Buộc bà Mai Thị M trả cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Mai Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/DS-ST
Ngày : 03-7-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Ngọc Dung

2. Bà Lê Thị Kim Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Lý Kiều Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2024/TLST-DS ngày 22/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Số 9 Nguyễn ĐC, Phường A, TP. Tân An, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà Mai Thị M, sinh năm 1970

Địa chỉ: Số 105 ấp Vĩnh B, xã An Vĩnh N, TP. Tân An, tỉnh Long An.

(Tất cả có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Minh Đ trình bày:

Ngày 15/10/2023 ông Đ có cho bà M vay số tiền 11.000.000đ, hẹn trả trong tháng. Ngày 05/12/2023 ông Đ có cho bà M vay số tiền 44.000.000đ, hẹn trả trong tháng.

Tổng cộng số tiền bà M đã mượn của ông Đ là 55.000.000đ. Khi mượn tiền bà M có viết và ký tên vào giấy mượn tiền. Tất cả số tiền vay này đều đã đến hạn thanh toán, ông Đ có yêu cầu bà M trả tiền, nhưng đến nay vẫn không trả. Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa Án buộc bà M trả cho số tiền vốn vay 55.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Mai Thị M thừa nhận có vay tiền của ông Nguyễn Minh Đ, chữ ký tên trong giấy mượn tiền là của bà. Do kinh tế khó khăn, bà đồng ý thanh toán cho ông Đ số tiền vay 55.000.000đồng theo phương thức mỗi tháng trả 1.000.000đồng.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Hội đồng xét xử đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo qui định pháp luật.

Về nội dung: Theo các giấy biên nhận mượn tiền có căn cứ xác nhận bà M có vay của ông Đ số tiền 11.000.000đồng vào ngày 15/10/2023 và ngày 05/12/2023 vay 44.000.000đồng. Tại phiên tòa bà M thừa nhận chữ ký trong các giấy biên nhận này là của bà, các khoản vay này đều đã đến hạn nên bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà M trả số tiền nợ vay gốc là 55.000.000 đồng cho ông Đ. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Minh Đ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An về tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Mai Thị M có địa chỉ tại thành phố Tân An, tỉnh Long An. Căn cứ điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ vay là 55.000.000 đồng. Căn cứ xác lập giao dịch là các “Biên nhận” ngày 15/10/2023 bà M có vay 11.000.000đồng và ngày 05/12/2023 vay 44.000.000đồng, thời hạn trả trong tháng. Hợp đồng vay được xác lập giữa ông Đ với bà M là hợp đồng vay có kỳ hạn và không lãi suất, bà Mai Thị M có viết và ký tên người mượn tiền trong các biên nhận. Ông Đ cho rằng từ khi nhận tiền cho đến nay bà M chưa thanh toán khoản tiền nào. Tất cả các giấy mượn tiền này đều ghi thời hạn trả là trong tháng, không ghi lãi suất nhưng bà M vẫn không trả đầy đủ tiền nợ vay khi đến hạn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà M thừa nhận có vay tiền của ông Đ và khi ông Đ yêu cầu ký tên thì bà ký tên. Tại phiên tòa, bà M xác định có vay 10.000.000đồng nhưng khi viết giấy biên nhận thì ông Đ yêu cầu viết 11.000.000đồng đã bao gồm tiền lãi, bà vay 20.000.000đồng nhưng ký vào giấy nhận nợ với số tiền là 44.000.000đồng. Đối với số tiền vay 11.000.000đồng, ông Đ đã gộp vào giấy mượn nợ 22.000.000đồng nên bà M không đồng ý thanh toán số tiền vay 11.000.000đồng. Còn số tiền vay 44.000.000đồng thì bà đồng ý trả cho ông Đ. Ông Đ thừa nhận số tiền vay 22.000.000đồng bà M có vay của ông và đã được Tòa án đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2024/QĐCNHGT-Ds ngày 16/02/2024, nên việc bà M trình bày số tiền vay 11.000.000đồng đã được gộp vào giấy biên nhận nợ 22.000.000đồng là không có căn cứ, đây là các khoản vay riêng thời gian vay khác nhau. Tòa án đã yêu cầu bà M cung cấp chứng minh nhưng tại phiên tòa bà M không cung cấp được, trong các biên nhận nợ đều có chữ ký của bà M, không có ai ký nhận làm chứng, bà thừa nhận khi ký biết được số tiền vay là bao nhiêu nhưng nghĩ là tiền lãi nên đồng ý ký nhận. Do đó, căn cứ vào Biên nhận có chữ ký của bà M, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, cần buộc bà M trả cho ông Đ số tiền vay 55.000.000 đồng.

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay 55.000.000đồng một lần ngay khi bản án có hiệu lực phát luật. Bị đơn đồng ý không trả tiền lãi đối với số tiền vay này của ông Đ nên cần buộc bà M có nghĩa vụ trả cho ông Đ số tiền 55.000.000đồng một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn phải chịu 2.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Mai Thị M.

Buộc bà Mai Thị M trả cho ông Nguyễn Minh Đ số tiền 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Bà Mai Thị M phải chịu 2.750.000 (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Minh Đ không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 1.375.000 đồng theo biên lai thu số 0001723 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ