vanban.org

Bản án 69/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/05/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2024/DS - ST
Ngày: 16/5/2024
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lâm Văn Vô

3/ Bà Trần Nguyệt Mai

-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân

Quận N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy– Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận

N, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (Ngân hàng S)

Trụ sở: Lầu 8, 266-268 đường N, Phường V, Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ:

Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền là Công ty THNN MTV Quản lý nợ và

khai thác tài sản ngân hàng S, do ông Lê Ngọc T là người đại diện theo pháp luật (theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số xxxxxxxxxx đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022).

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty THNN MTV Quản lý nợ và

khai thác tài sản ngân hàng S là ông Nguyễn Thành N (theo Giấy ủy quyền số 1961/2024/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thuỳ T, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 813 đường Đ, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án

người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/01/2017 bà T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân

hàng Ngân hàng S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 25.987.740 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh

toán cho Ngân hàng số tiền 29.435.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả

nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/01/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 10.071.040 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 16/5/2024, bà T còn nợ các khoản sau: nợ gốc:

10.071.040 đồng; lãi quá hạn: 20.921.016 đồng; tổng cộng: 30.992.056 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/5/2024 tổng cộng là 30.992.056 đồng. bà T còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 17/5/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thuỳ T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không

đến tòa làm việc nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét

xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn bà Nguyễn Thuỳ T phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/5/2024 là 30.992.056 đồng, trong đó nợ gốc là 10.071.040 đồng, nợ lãi quá hạn là 20.921.016 đồng.

Ngoài ra, bà T còn có trách nhiệm thanh toán tiếp khoản tiền lãi phát

sinh từ ngày 17/5/2024 cho đến khi bà T trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân

thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các bản tự khai của đại

diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định pháp luật và các điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có

trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, do bị đơn bà Nguyễn Thuỳ T có địa chỉ nơi cư trú tại Quận N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận N, theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét bị đơn bà Nguyễn Thuỳ T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông

báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T.

* Về nội dung:

Về yêu cầu đương sự:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn trình bày căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/01/2017 Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thuỳ T, hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất áp dụng cho thẻ Visa là 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 25.987.740 đồng, đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 29.435.000 đồng. Tổng số tiền thanh toán được áp dụng theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.

Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 01/01/2020 Ngân hàng

đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ tại thời điểm này là 10.071.040 đồng làm nợ gốc, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.

Tính đến ngày xét xử ngày 16/5/2024 bà T còn nợ ngân hàng tổng cộng

là 30.992.056 đồng (Ba mươi triệu chín trăm chín mươi hai nghìn không trăm năm mươi sáu đồng). Ngân hàng yêu cầu bà Nguyễn Thuỳ T phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 30.992.056 đồng (trong đó nợ gốc là 10.071.040 đồng, nợ lãi quá hạn là 20.921.016 đồng). bà T còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 17/5/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Căn cứ vào bảng kê chi tiết giao dịch của khách hàng, bảng tóm tắt sao

kê và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có đủ cơ sở để chứng minh bà Nguyễn Thùy Trang đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng nêu trên, số tiền bà T thực hiện các giao dịch, số tiền đã thanh toán, bà T hiện còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 10.071.040 đồng.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà T trả số nợ gốc trên là có căn cứ, phù

hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về lãi suất: Căn cứ Quyết định số 2399/2019/QĐ -TTT ngày

06/8/2019 của Ngân hàng thương mại cổ phần Squy định mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa là 2,6%/tháng, lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn (3,9%/tháng).

Xét thấy, mức lãi suất trên do các bên tự nguyện thỏa thuận tại điều

khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất trên có cơ sở để chấp nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà T trả số nợ lãi quá hạn 20.921.016 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Như vậy tổng số tiền bà T có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng,

gồm nợ gốc và nợ lãi quá hạn, tổng cộng là 30.992.056 đồng. bà T còn nghĩa vụ thanh toán tiếp khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 17/5/2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bà T đến tòa để trình bày ý kiến của mình nhưng bà T vẫn vắng mặt xem như đã từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước tòa.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp

nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thuỳ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.549.603 đồng.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí

đã nộp là 582.022 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương

mại Cổ phần S.

Buộc bà Nguyễn Thuỳ T phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ

phần S (Ngân hàng S) số tiền nợ của thẻ tín dụng là 30.992.056 đồng (ba mươi triệu chín trăm chín mươi hai ngàn không trăm năm mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 10.071.040 đồng (mười triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn không trăm bốn mươi đồng), nợ lãi quá hạn là 20.921.016 đồng (hai mươi triệu chín trăm hai mươi mốt ngàn không trăm mười sáu đồng) theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 09/01/2017.

Thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi

bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án

xong, bà Nguyễn Thuỳ T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thuỳ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.549.603 đồng

(Một triệu năm trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm lẻ ba đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí

đã nộp là 582.022 đồng (năm trăm tám mươi hai nghìn không trăm hai mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0010446 ngày 16/01/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ