- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lường Văn L 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt quả tang ngày 14/12/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HSST Ngày 10/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Phương
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lương Mai Ngân.
- Ông Nguyễn Việt Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Trung - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai “Xét xử trực tuyến” vụ án hình sự thụ lý số: 58/TLST - HS ngày 20 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST
- HS ngày 27 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn L, sinh năm 2000; Giới tính: Nam; HKTT: Bản P, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Chỗ ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Con ông Lường Văn Tâm, sinh năm 1972 con bà Lường Thị Hom
- không xác định năm sinh (đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 5; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; theo Danh chỉ bản số 04 do Công an quận H lập ngày 24/12/2022.
Bắt quả tang ngày 14/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo: Bà Nghiêm Thị N – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố:
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 14/12/2022, tại khu vực đường Vĩnh H thuộc tổ 20 phường V, quận H, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường V kiểm tra bắt quả tang Lường Văn L đang cất giấu trái phép tại lòng bàn tay trái 02 (hai) gói giấy bạc màu bạc kích thước khoảng 0,5x01 cm bên trong chứa chất bột màu trắng, L khai nhận 02 chất bột màu trắng trên là ma túy loại Heroine, L mua mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Lường Văn L khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 15 phút ngày 14/12/2022, Lường Văn L điều khiển 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave mang BKS: 26B2-780.41 đến khu vực đường Vĩnh H, phường V, quận H, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, L gặp và mua được của 01 người phụ nữ không quen biết khoảng 45 tuổi 02 gói ma túy loại Heroine với giá 400.000 đồng. Mua xong, L cầm 02 gói ma túy tại tay trái đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 20 phường V, quận H, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ của Lường Văn L:
- 02 gói giấy bạc màu bạc kích thước mỗi gói khoảng 0,5x01 cm bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng;
- 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn L.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41; SM: 2454242; SK: 429060 đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 đăng ký xe máy mang BKS: 26B2-780.41 mang tên Lường Văn L;
Kết luận giám định số 8456/KL-KTHS ngày 21/12/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,290 gam”
Đối với đối tượng bán ma túy cho Lường Văn L (theo lời khai của L), Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện không xác định được. Ngoài lời khai của L, hiệnkhông có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định đối tượng đã bán ma túy cho L, do đó khôngcó căn cứ để xác minh điều tra làm rõ.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn L, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho L do không liên quan đến hành vi phạm tội. Lường Văn L nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41 xe đăng ký tên và chủ sở hữu là Lường Văn L cùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh là tài sản cá nhân của L. L khai sử dụng làm phương tiện đi lại và liên lạc cá nhân. Toàn bộ số vật chứng còn lại đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận H, để chờ quyết định xử lý.
Quá trình điều tra, Lường Văn L khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKS-HM, ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Lường Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
[2] Tại phiên tòa:
Bị cáo Lường Văn L thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình và hòa nhập xã hội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo cũng thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên trông quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất thể hiện sự khoan hồng của nhà nước và đề nghị trả lại cho bị cáo điện thoại và xe máy cho bị cáo.
Kiểm sát viên nắm quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tích chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Xử phạt: bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,290gam Heroin.
Trả lại bị cáo: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41; SM: 2454242; SK: 429060 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy mang BKS: 26B2-780.41 mang tên Lường Văn L; là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo, người bào chữa thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không tranh luận với Kiểm sát viên.
[4] Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ, niêm phong và mở niêm phong tang vật; Quyết định trưng cầu giám định xác định khối lượng, loại ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H, Thành phố Hà Nội; Kết luận giám định số 8456/KLGĐ-PC09 ngày 21/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện:
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 14/12/2022; Lường Văn L đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine, có khối lượng 0,290gam. Nguồn gốc số ma túy này do bị cáo mua của một người phụ nữ không quen biết với giá 400.000 đồng, tại khu vực đường Vĩnh H, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội, mục đích bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân. Sau khi bị cáo mua được 02 gói ma túy, bị cáo cầm ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực vực đường Vĩnh H thuộc tổ 20 phường V, quận H, Thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường V bắt quả tang và lập biên bản thu giữ tang vật. Hành vi nêu trên của bị cáo Lường Văn L đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Xác định hành vi của bị cáo là tội phạm nghiêm trọng; ma túy bị cáo tàng trữ loại Heroine có khối lượng là 0,290gam. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người; đồng thời là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Lường Văn L trước khi phạm tội lần này chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều nhận tội và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý của nhà nước nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tặng nặng TNHS.
Đối với tội phạm về ma túy, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử, xét bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp: Đối với 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,290gam Heroine; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41; SM: 2454242; SK: 429060 đã qua sử dụng; 01 đăng ký xe máy mang BKS: 26B2-780.41 mang tên Lường Văn L là tang vật của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội; do vậy khi giải quyết cần căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định, cần:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,290gam Heroine;
- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41; SM: 2454242; SK: 429060 đã qua sử dụng và 01 đăng ký xe máy mang BKS: 26B2-780.41 mang tên Lường Văn L là tang vật của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo dùng để đi mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
Các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 1 Điều 32; Điều 38; khoản 1 Điều 47; Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt bị cáo Lường Văn L 16 (Mười sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt quả tang ngày 14/12/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Các vấn đề khác: Không xét.
3. Biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,290gam Heroine bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, đen mang BKS: 26B2-780.41; SM: 2454242; SK: 429060 đã qua sử dụng và 01 đăng ký xe máy mang BKS: 26B2-780.41 mang tên Lường Văn L.
- Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu xanh đã qua sử dụng; có số Imei1: 869945060187438, Imei2: 869945060187420.
Toàn bộ vật chứng nêu trên, đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố Hà Nội, theo Phiếu nhập kho vật chứng, tài sản số NK2023-0102, ngày 17/3/2023.
4. Về án phí: Bị cáo Lường Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND quận H, TP. Hà Nội; - Công an quận H, TP. Hà Nội; - Chi cục THADS quận H; - Trại tạm giam số 2, CA. Thành phố Hà Nội; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Phương |