vanban.org

Bản án 69/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điều 106, 168, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án Về hình phạt: Xử phạt bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc A - MBMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 69/2023/HSST
Ngày 20/4/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Tuấn; Bà Nguyễn Thị Anh Vân.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký TAND quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2023/TLST-HS, ngày 06/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/HS-QĐ ngày 07/4/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đắc A ; Sinh ngày: 20/8/2003 tại Hà Nội; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố số 1, phường Xuân P, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại học Tài nguyên Môi trường; Họ tên bố: Nguyễn Đắc P; Sinh năm: 1976; Nghề nghiệp: Bán hàng tự do; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Bích Nn; Sinh năm: 1981; Nghề nghiệp: Bán hàng tự do; Danh chỉ bản số 34 do Công an Bắc Từ Liêm lập ngày 23/12/2022; Tiền án, tiền sự: không; Bị gi trong trường h p khẩn cấp, tạm gi từ ngày 16/12/2022, hủy b tạm gi ngày 23/12/2022; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn ch n: Cấm đi kh i nơi cư tr ; Có m t tại phiên tòa.

. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Hồng Sơn; sinh năm: 1996; Nơi đăng kí thường trú: Tổ dân phố số 2, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Vắng m t tại phiên tòa.

2. Anh Nguyễn Đắc C ; Sinh ngày: 19/9/2006; Người đại diện h p pháp của anh C : Bà Nguyễn Thị Bích N; Sinh năm: 1981; Cư tr tại: Tổ dân phố 3, phường X, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Bà N có m t tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đầu tháng 12/2022, thấy nhiều người sử dụng thuốc lá điện tử có chứa ma túy nên bị cáo Nguyễn Đắc A vào mạng xã hội Telegram mua của một người không quen biết, không rõ nhân thân về để bán kiếm lời. Bị cáo đ t mua 10 điếu thuốc lá điện tử với giá 3.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết và hẹn giao ma túy tại khu vực C cư Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Sau đó, một người đàn ông m c áo xe ôm công nghệ Grab giao hàng cho bị cáo. Bị cáo mang về nhà cất gi và đăng lên mạng xã hội Facebook để bán.

Khoảng 19 giờ ngày 15/12/2022, qua mối quan hệ bạn bè, anh Trần Hồng B quen và biết bị cáo A có bán thuốc lá điện tử chứa ma túy nên dùng số điện thoại 0878167538 gọi điện đến số điện thoại 0349744410 của bị cáo h i mua 10 điếu thuốc lá điện tử chứa ma túy. Bị cáo A đồng ý bán với giá 4.500.000 đồng và 100.000 đồng tiền công vận chuyển, hẹn giao dịch vào tối cùng ngày tại khu C cư Ecohome 3, phường Đông Ngạc. Bị cáo để 10 hộp giấy bên trong chứa điếu thuốc lá điện tử có chứa ma túy vào một túi nilong màu xanh rồi nhờ em trai bị cáo là Nguyễn Đắc C đi giao hàng và thu 4.600.000 đồng của khách. Anh C đồng ý và cất túi nilong chứa 10 hộp thuốc lá điện tử vào cốp xe máy Honda Wave BKS 29L1-793.27, đi đến nhà Nguyễn Tiến Ngọc T (là bạn anh C ), đón Tuân đi cùng (trước đó cả hai hẹn cùng đi dự sinh nhật bạn). Anh C bảo anh Tuân lái xe đến C cư Ecohome 3, phường Đông Ngạc để giao hàng cho khách trước và đi dự sinh nhật sau, anh T đồng ý. Khoảng 21 giờ, cả hai đến C cư Ecohome 3, phường Đông Ngạc, anh T dừng xe đứng chờ bên ngoài, còn anh C lấy hàng trong cốp xe máy ra, mư n điện thoại của anh T gọi điện đến số điện thoại 0878167538 của anh S. Khi cả hai g p nhau, anh C chuẩn bị giao hàng cho anh B còn anh B đang cầm 200.000 đồng định trả cho anh C thì bị Tổ công tác Công an phường Thụy Phương phát hiện, bắt gi quả tang và thu gi của anh C 01 túi ni lông màu xanh bên trong có 10 hộp giấy hình hộp, kích thước (2x3x10)cm, bên trong mỗi hộp đều chứa điếu thuốc lá điện tử nghi là ma túy, thu gi của anh B 200.000 đồng.

Vật chứng: Thu gi của bị cáo A 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng lắp số sim 0349744410; Thu gi của anh C 01 túi nilong màu xanh bên trong có 10 hộp giấy hình ch nhật kích thước khoảng (2x3x10) cm, bên trong mỗi hộp giấy chứa thanh thuốc lá điện tử dài khoảng 10cm, có nắp màu đen, 01 điện thoại di động Xiaomi có nắp màu xanh lắp số thuê bao 0349664458, 01 điện thoại di động Iphone XR màu đen lắp số thuê bao 0983633781, 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS 29L1-793.27, số máy 1532961, số khung 195109; Thu gi của anh B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 215 màu đen lắp số thuê bao 0878167538 và số tiền 200.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 8528/KL-KTHS ngày 23/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: 10 thanh thuốc lá điện tử bên trong 10 hộp giấy hình hộp ch nhật kích thước (2x3x10) cm, mỗi ống có chiều dài 10 cm, nắp màu đen đều có ma t y loại ABD-BUTINACA.

Xét nghiệm tìm chất ma t y trong cơ thể của bị cáo A , anh C , anh S, anh T đều cho kết quả âm tính (không sử dụng chất ma túy).

Anh C đư c bị cáo A là anh trai nhờ đi giao hàng cho bị cáo, bị cáo không nói cho anh C biết bên trong 10 hộp thuốc lá điện tử có chứa ma túy nên anh C không biết mình mang ma túy bán hộ bị cáo. Anh T không biết 10 hộp thuốc lá điện tử chứa ma t y do đó không xử lý anh C , anh Tuân về hành vi bán trái phép chất ma túy.

Anh B khai mục đích thuốc lá điện tử chứa ma túy của bị cáo là để sử dụng. Do anh B chưa nhận đư c ma t y nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi tàng tr trái phép chất ma túy.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc mang biển kiểm soát: 29L1-793.27, số khung JA39E1532961, số máy RLHJA3911LY195109, chủ xe là ông Nguyễn Đắc P, là ông nội của anh C . Ông P không biết anh C sử dụng xe máy để đi giao hàng cho bị cáo. Ngày 22/3/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm trả lại chiếc xe trên cho ông P. Ông P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 69/CT-VKS, ngày 05/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Đắc A về tội “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc A mức án từ 24 - 30 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy và một túi ni lông màu xanh; tịch thu sung quỹ một điện thoại Iphone 6 màu vàng lắp sim số thuê bao 0349744410, một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 215 màu đen lắp số thuê bao 0878167538 và số tiền 200.000 đồng; Trả lại cho anh C một điện thoại di động Xiaomi có nắp màu xanh, gắn sim số thuê bao 0349664458 và một điện thoại di động Iphone XR màu đen lắp số thuê bao 0983633781.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng đã thực hiện đ ng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục, quyền nghĩa vụ của mình. Quá trình giải quyết vụ án, nh ng người tham gia tố tụng không có kA nại, tố cáo, kiến nghị gì đối với hoạt động, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện để giải quyết vụ án đều h p pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ ngày 15/12/2022, tại khu vực C cư Ecohome 3, phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Đắc A có hành vi bán trái phép 10 điếu thuốc lá điện tử chứa ma t y ADB-BUTINACA cho anh Trần Hồng S. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma t y”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo đư c quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về kiểm soát các chất gây nghiện đư c luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. ADB - BUTINACA là chất ma t y đư c tổng h p ra từ các hóa chất và đư c kiểm soát theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất ở Việt Nam, thuộc nhóm chất cần sa tổng h p, có tác dụng gây ra ảo giác, kích thích thần kinh trung ương. ADB –BUTINACA đư c pha thành dung dịch rồi pha, phun, tẩm vào các loại thuốc lá điện tử, cây c , các mẫu thảo mộc khô. Thảo mộc khô chứa ADB –BUTINACA bị Nhà nước kiểm soát nhưng bị cáo vẫn cố tình mua, bán lại với mục đích kiếm lời. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư l i nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng n ng trách nhiệm hình sự:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải với hành vi phạm tội - Đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đư c quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu có hành vi vi phạm pháp luật - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đư c quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt:

5.1. Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng n ng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra kh i xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa C .

5.2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

. Về các vấn đề khác

6.1 Về vật chứng: Số thuốc lá điện tử có chứa chất ma túy ADB - BUTINACA bị cấm lưu hành, một túi ni long màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Một điện thoại Iphone 6 màu vàng gắn sim số thuê bao 0349744410 thu gi của bị cáo, một điện thoại di động Nokia 215 màu đen lắp số thuê bao 0878167538 và số tiền 200.000 đồng thu gi của anh B liên quan đến tội phạm, có giá trị sử dụng, cần tịch thu sung quỹ. Một điện thoại di động Xiaomi có nắp màu xanh, gắn sim số thuê bao 0349664458 và một điện thoại di động Iphone XR màu đen lắp số thuê bao 0983633781 thu gi của anh C , không liên quan đến tội phạm, tại phiên tòa người đại diện của anh C có yêu cầu nhận lại tài sản nên trả lại cho anh C .

6.2. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đắc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các điều 106, 168, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc A 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, đư c trừ thời gian tạm gi từ ngày 16/12/2022 đến ngày 23/12/2022.

4. Các vấn đề khác

4.1. Về Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa ma t y đã giám định đư c niêm phong có ch kí giáp lai của bị cáo, cán bộ điều tra và giám định viên và 01 một túi ni long màu xanh; Tịch thu sung quỹ một điện thoại Iphone 6 màu vàng gắn sim số thuê bao 0349744410, một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 215 màu đen lắp số thuê bao 0878167538 và số tiền 200.000 đồng; Trả lại cho anh Nguyễn Đắc C một điện thoại di động Xiaomi có nắp màu xanh, gắn sim số thuê bao 0349664458, một điện thoại di động Iphone XR màu đen lắp số thuê bao 0983633781 (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 137/23 ngày 12/04/2023 gi a Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

4.2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà N, anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày đư c tống đạt h p lệ bản án.

Cỡ chữ