- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trịnh Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 69/2023/HS-ST Ngày: 13-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quang Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Kim Thủy, ông Vũ Xuân Kiều.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Luyện - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Văn N (CCCD số 031094007410); sinh ngày: 06/12/1994, tại thành phố Hải Phòng; nơi ĐKNKTT: thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: tổ G, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 0/12; con ông Trịnh Văn L và bà Bùi Thị H; không có vợ (vì đã ly hôn); có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 13/12/2022 hiện tạm giam, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn N là Luật sư Vũ L1, Văn phòng L2, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Q, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 13/12/2022, tại khu vực khách sạn K, thuộc Khu D, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Tổ công tác liên ngành bắt quả tang Trịnh Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 14K1- 029.53 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán 07 viên nén màu tím, kết quả giám định là chất ma túy MDMA có tổng khối lượng 3,776 gam, 05 túi nilon chứa chất chất tinh thể màu trắng kết quả giám định là ma túy Ketamine có tổng khối lượng 3,457 gam (Kết luận giám định số 2012/KL-KTHS ngày 21.12.2022 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q).
Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của N tại Tổ G, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Thu giữ tại trần nhà 01 túi giả da màu nâu, bên trong có: 01 túi nilon chứa 45 viên nén màu xanh, kết quả giám định là chất ma túy MDMA có tổng khối lượng 23,418 gam, 25 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy Ketamine có tổng khối lượng 17,113 gam mục đích số ma túy này N tàng trữ để bán (Kết luận giám định số 2019/KL-KTHS ngày 22.12.2022 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q).
Quá trình điều tra còn xác định trong các ngày 8, 9 và 10/2022 tại khu vực Ngã 5 phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, N đã 03 lần bán cho Đỗ Văn T (sinh năm 1992, trú tại tổ A, khu H, phường N, thành phố M) tổng cộng 03 gam Ketamine, 01 viên ma túy màu tím và 02 viên ma túy màu xanh với tổng giá trị là 6.900.000 đồng
Theo Kết luận giám định số 2012, 2019/KL-KTHS ngày 22.12.2022 của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, thì khối lượng trung bình 01 viên nén màu xanh = 0,52 gam MDMA, khối lượng trung bình 01 viên nén màu tím = 0,539 gam MDMA. Do đó, 03 viên nén màu xanh và màu tím Trịnh Văn N bán cho Đỗ Văn T là ma túy MDMA có tổng khối lượng là 1,579 gam.
Tổng cộng, Trịnh Văn N đã bán và tàng trữ để bán trái phép 23,57 gam ma túy loại Ketamine và 28,773 gam ma túy loại MDMA (tính theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ là 119,91%).
Tại Bản cáo trạng số 52/CT-VKSQN-P1 ngày 09/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trịnh Văn N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn N thừa nhận bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, là đúng, không oan vì bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy đúng như mô tả trong bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại Công an là chính xác khách quan. Khi hỏi cung có Luật sư tham gia.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 15 năm đến 16 năm tù; đề nghị xử lý án phí, vật chứng theo pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo: về tội danh, điều luật mà VKS áp dụng truy tố bị cáo Luật sư nhất trí với Viện kiểm sát. Về hình phạt Luật sư đề nghị Tòa án xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức kém không biết đọc biết viết; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Đề nghị xử dưới khung hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo bổ sung là hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, mẹ bị tàn tật.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: quá trình điều tra, truy tố các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về tội danh: căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người chứng kiến căn cứ vào vật chứng thu giữ, bản ảnh, kết luận giám định, nhận dạng và một số chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: theo quy định của Luật phòng chống ma túy thì nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng ma túy. Mọi hoạt động liên quan đến ma túy đều phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép. Trong vụ án này bị cáo N không được cơ quan có thẩm quyền cho phép mua bán ma túy, nhưng từ ngày 08/10/2022 đến ngày 13/12/2022, Trịnh Văn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 27,194 gam ma túy loại MDMA và 20,57 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để bán thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng; đồng thời bị cáo còn 03 lần bán trái phép tổng khối lượng 03 gam ma túy loại Ketamine và 1,579 gam ma túy loại MDMA cho Đỗ Văn T. Tổng cộng, Trịnh Văn N đã bán và tàng trữ để bán trái phép 23,57 gam ma túy loại Ketamine và 28,773 gam ma túy loại MDMA. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 5 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Hành vi đó rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho sức khỏe, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, nên bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đúng như truy tố của Viện kiểm sát.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo nhiều lần bán ma túy, chưa lần nào bị xử lý hình sự nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhận thức pháp luật hạn chế.
Về vật chứng: quá trình điều tra có thu giữ một số ma túy, sau giám định được niêm phong trong 02 phong bì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone kèm 01 sim; 01 ví giả da màu đen; 01 túi giả da màu nâu; 01 thẻ ngân hàng V và 01 giấy phép lái xe mang tên Trịnh Văn N; 14.000.000 VND; 01 xe máy YAMAHA Sirius BKS 14K1-029.53; 20 vỏ túi nilon; 01 cân điện tử; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn M. Đối với ma túy, các túi nlon, cân điện tử, túi, ví là vật nhà nước cấm lưu hành và dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại là công cụ dùng vào việc pham tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với thẻ Ngân hàng V và số tiền 14.000.000 VND không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại bị cáo (số tiền 14 triệu đang gửi tại K tỉnh Quảng Ninh).
Đối với chiếc xe máy YAMAHA Sirius BKS 14K1-029.5301 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn M. Theo Nguyên khai là mua của người không quen, không có giấy tờ mua bán. Xác minh anh Lê Văn M (người có tên trên giấy đăng ký xe) thì không có ở địa phương. Do đó, chưa có cơ sở xử lý chiếc xe này. Nên giao lại cho Cơ quan Công an tiếp tục xử lý theo pháp luật.
Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Trịnh Văn N. Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục tạm giữ để điều tra, làm rõ nên không xem xét trong bản án này. [6] Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Trịnh Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn N 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2022.
- Về vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy niêm phong trong 02 niêm phong; 01 sim điện thoại di động; 20 túi nilon; 01 cân điện tử; 01 ví giả da màu đen; 01 túi giả da màu nâu;
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động;
+ Trả lại bị cáo N 01 thẻ Ngân hàng V và 14.000.000 đồng (số tiền 14 triệu đồng đang gửi tại Kho bạc theo giấy nộp tiền số 0102 ngày 29/12/2022 (BL57) giấy này ghi nhầm tên vụ án là Trịnh Văn H1); + Giao lại chiếc xe máy YAMAHA Sirius BKS 14K1-029.53 và đăng ký xe mô tô mang tên Lê Văn M cho Công an tỉnh Q tiếp tục điều tra xử lý theo pháp luật.
(tình trạng vật chứng như được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng số 76 ngày 12/5/2023, giữa Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Quảng Ninh với PC04 Công an tỉnh Q).
Về án phí: căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Văn N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Luật sư; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT - CA Quảng Ninh; - TTG CA tỉnh Quảng Ninh; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan THAHS CA Quảng Ninh; - Lưu Văn phòng, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Cường |